Slider 1 mini Slider 2 mini

Vitamin B12 chính là tác nhân gây mụn trứng cá

Filled under:

Theo công bố từ tạp chí khoa học Science Translational Medicine, Vitamin B12 – loại hợp chất hữu cơ có nhiều trong thịt, cá, sữa, dầu thực vật,..rau xanh, súp lơ hay một số loại trái cây như đu đủ, kiwi và xoài, có liên quan mật thiết đến việc hình thành mụn trứng cá trên cơ thể người. Loại vitamin này đã làm thay đổi ảnh hưởng của vi khuẩn lên da mặt, cụ thể là thúc đẩy quá trình viêm nhiễm, dẫn đến sự xuất hiện của mụn.
3074371_vitamin_b12 (1)
Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy người dùng vitamin B12 khiến nồng độ vitamin trong da tăng cao, vi khuẩn P. acnes cảm nhận được điều đó, đồng thời giảm tốc độ sản xuất B12 (P.acnes vốn có khả năng tự sản xuất loại vitamin này), khiến hoạt động của những vi khuẩn trên da không còn ổn định. Sự mất cân bằng này sẽ nhắc nhở P. acnes sản xuất nhiều hơn porphyrins – một phân tử có liên quan. Và thật không may, porphyrins lại chính là tác nhân gây viêm, yếu tố khá quan trọng trong sự hình thành và phát triển mụn trứng cá.
Vitamin B12 thường được các bác sĩ yêu cầu bổ sung đối với những người gặp vấn đề về trí nhớ hay thiếu máu. Trong quá trình đó, nhiều người đã phản ảnh việc họ dùng loại sinh tố này làm mụn trứng cá nổi nhiều trên mặt. “Thật thú vị khi tìm thấy mối liên kết giữa B12 và mụn trứng cá, thông qua phân tích vi khuẩn trên da”, Huiying Li – nhà dược học phân tử tại Đại học California (Los Angeles, Mỹ) và là đồng tác giả của nghiên cứu cho biết.
Có đến hơn 80% thanh thiếu niên và người trưởng thành trên khắp thế giới phải đối mặt với mụn trứng cá hàng ngày. Mặc dù tự “đến” và “đi”, nhưng nó cũng để lại nhiều sẹo trên mặt chúng ta. Điều này đôi khi ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tự trọng của người bị. Tiếc rằng hiện các nhà nghiên cứu gần như vẫn chưa nắm được gì nhiều về tình trạng này như nhiều người mong đợi.
Những gì khoa học tìm thấy cho đến thời điểm này là việc sản xuất bã nhờn của da mặt, và một rối loạn của các tế bào lót bên trong nang lông đã thúc đẩy sự phát triển của mụn trứng cá. Còn vai trò của vi khuẩn trong việc hình thành mụn vẫn còn là một ẩn số.
3074370_b12
Đó là lý do tại sao Li và nhóm của bà đã quyết định tập trung quan sát B12. Từ những năm 1950, một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên kết giữa các vitamin và mụn trứng cá, nhưng phần lớn các hiệp hội khoa học lúc bấy giờ cho điều này là vô lý. Sau đó, các nhà nghiên cứu nghi ngờ vitamin có thể ảnh hưởng đến vi khuẩn trên da, nổi bật nhất là Propionibacterium acnes. Đến hiện nay, bà Li cùng các cộng sự nghĩ rằng họ đã có thể tìm ra cách B12 tác động đến vi khuẩn P. acnes, nhờ những thí nghiệm được tiến hành trên các tình nguyện viên.
Kết
Như vậy là đối với một số người, B12 có thể là yếu tố gây viêm da, dẫn đến sự hình thành của mụn trứng cá. Theo bà Li, vẫn còn cần nhiều thời gian để chứng minh loại chất hóa học nói trên là “thủ phạm” cuối cùng gây ra căn bệnh về da này.

Posted By Unknown6:13 AM

Viagra cho phụ nữ nhận được sự ủng hộ của ủy ban tư vấn FDA, hứa hẹn sớm có mặt trên thị trường

Filled under:

Theo thông tin từ Washington Post, mới đây một ủy ban tư vấn cho Cục Quản Lý Thuốc và Dược Phẩm Hoa Kỳ FDA (Food and Drug Administration) đã bỏ phiếu để xem xét việc ủng hộ Flibanselin, một loại thuốc thúc đẩy ham muốn sinh dục cho những đối tượng nữ giới có ham muốn bị suy giảm. Với kết quả bỏ phiếu 18-6, ủy ban đã quyết định khuyến nghị FDA chấp thuận loại thuốc này với những điều kiện quản lý rủi ro và nhãn mác nhất định.
3057131_viagrawomen2
Flibanserin được phát triển bởi công ty dược phẩm Sprout Pharmaceutical, là loại thuốc hoạt động dựa trên cơ chế đẩy mạnh phản ứng của các thụ thể trong não với các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin và dopamine. Flibanserin được khuyến cáo sử dụng cho những phụ nữ đối mặt với chứng rối loạn giảm ham muốn sinh dục (Hypoactive Sexual Desire Disorder).
Nói về hiệu quả của loại thuốc này, Sprout Pharmaceuticals cho biết, trong một thử nghiệm lâm sàng kéo dài trong 24 tuần, thì có khoảng 46 đến 60% bệnh nhân đã có những phản ứng tích cực sau quá trình điều trị. Tuy nhiên, một số quan ngại rằng, nếu hiệu ứng giả dược (placebo effect) được tính đến thì thực ra chỉ có 10% bệnh nhân nữ có tình trạng được cải thiện nhờ thuốc. Những thử nghiệm khác cũng cho thấy sự gia tăng không đáng kể trong số lần quan hệ của những cặp đôi có sử dụng Flibanserin với mức tăng chỉ từ 2-3 lần trong một tháng. FDA cũng miêu tả loại thuốc này có tác dụng ở mức “trung bình”.
Ngoài ra, bên cạnh vấn đề hiệu quả khi sử dụng thuốc, các tác dụng phụ không mong muốn khác cũng cần phải lưu ý. Theo đó, Flibanserin được biết đến là loại thuốc tương tác kém với rượu và thuốc tránh thai, do vậy khi sử dụng với nhau có thể dẫn đến các hiệu ứng phụ như mệt mỏi, chóng mặt và buồn nôn. Bên cạnh đó, một nghiên cứu kéo dài hai năm đã cho thấy loại loại thuốc này còn làm gia tăng nguy cơ ung thư vú ở những con chuột khi cho dùng Flibanserin gấp 4 lần liều điều trị là 100 miligram/ngày.
Tuy nhiên, dù sự thật là Flibanserin không được chứng minh là hoàn toàn có lợi, nhưng một số bác sĩ những người được mời đến để chứng thực tại ủy ban FDA đã quả quyết rằng dù sao thì có Flibanserin để dùng vẫn tốt hơn là không có gì. Một bác sĩ y khoa cho biết, khi những người phụ nữ có vấn đề về ham muốn sinh dục tới chỗ của bà để xin giúp đỡ, bà đã không biết phải làm sao để giúp họ bởi không có một giải pháp thực tế nào cho họ. Bà cho rằng, Flibanserin là tất cả những gì bà có thể nói với họ. Mặc dù hiện tại, trên thị trường có tồn tại một loại thuốc tương tự có tên Viagrađược FDA chấp thuận cho sử dụng rộng rãi từ năm 1998. Tuy nhiên, Viagra chỉ có tác dụng với nam giới, các tác dụng với nữ giới vẫn chưa được công nhận. Các thử nghiệm được thực hiện vào năm 1999 để xem tác động của nó với giới nữ cũng không cho kết quả khả quan.
Việc sử dụng Viagra không hiệu quả với nữ giới cũng dễ hiểu bởi bất lực ở nam giới không giống với tình dục thấp ở nữ giới. Mặc dù cùng bị tác động bởi một số yếu tố nhưng tình dục thấp ở nữ giới liên quan nhiều hơn đến stress và các vấn đề trục trặc trong mối quan hệ tình cảm. Do vậy, trong khi Viagra có tác dụng làm tăng lưu lượng máu đến bộ phận sinh dục thì Flibanserin hoạt động trên cơ chế giúp cải thiện chức năng hóa học trong não. Không giống với Viagra, Flibanserin cần phải uống hàng ngày bất kể họ có muốn quan hệ vào ngày hôm đó hay không.
Được biết, trước đó Flibanerin đã bị từ chối bởi FDA hai lần trong năm 2010 và 2013 nhưng Sprout Pharmaceuticals vẫn kiên trì đến cùng để đưa loại thuốc này ra thị trường. Hiện tại, ủy ban tư vấn đang làm việc để thiết lập các điều kiện cần thiết đính kèm với sự chấp thuận

Posted By Unknown6:11 AM

Facebook và ngành Dược

Filled under:

Mười năm , Facebook đã trở thành một kênh thông tin quan trọng, qua đó ngành dược có thể tương tác trực tiếp với các bệnh nhân. Chúng ta đã học được những gì và làm thế nào có chiến lược tốt, giúp phát triển thông tin liên lạc trong phạm vi ranh giới ngành dược?
a
10 năm ngắn ngủi, Facebook đã chạm mức 1,35 tỷ người dùng mỗi tháng, cho phép người dùng không chỉ tương tác với bạn bè , mà còn với các thương hiệu họ yêu thích (Xem thêm tại đây). Một số công ty dược phẩm cũng nhanh chóng khẳng định sự hiện diện của mình, song đơn giản chỉ là duy trì phương thức giao tiếp một chiều, khác hẳn với các lĩnh vực khác, chủ yếu do sự thắt chặt từ các cơ quan quản lý dược phẩm trên nền tảng kỹ thuật số mới mẻ này.
Thực tế đã chứng minh điều này, với một số công ty cẩn thận “nhúng ngón chân” của họ vào facebook nhằm lôi kéo sự tham gia của khách hàng mà không dính tý lùm xùm nào, số còn lại nhận được thư cảnh báo nghiêm khắc từ Cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ (FDA). Và trong năm 2014 này, FDA vẫn tiếp tục ra những cảnh báo về thông tin thuốc không đầy đủ trên Facebook (Download tại đây). Càng ngày, các công ty dược càng có thêm những hướng dẫn từ các cơ quan chức năng về cách họ nên “tự kiểm soát mình” trong không gian kỹ thuật số, sự hiện diện của các công ty dược trên Facebook phải đảm bảo một cái nhìn tươi mới và trong sạch. Vậy nên, để Facebook thực sự trở thành một kênh thông tin có ý nghĩa với ngành dược, cần có sự điều hướng đúng đắn trong môi trường nhiều sức ép này.
Làm thế nào để ngành dược sử dụng Facebook?
Nếu đánh giá bởi số lượt like, các công ty được biết đến nhiều nhất trên Facebook là: Johnson & Johnson (J & J), Boehringer Ingelheim (BI), Pfizer, GlaxoSmithKline (GSK) và Novartis. Nhưng thật tiếc, điều này không phải là thước đo trong sự tham gia có hiệu quả, nó vẫn chỉ thể hiện tầm vóc của một công ty trên mạng.
Hình 1 : Top các công ty được like trang Facebook nhiều nhất.
Hình 1 : Top các công ty được like trang Facebook nhiều nhất.
Tất nhiên, nếu không có những chia sẻ, những thông tin hữu ích cũng như những bàn luận thì sẽ chẳng có ai like, hay theo dõi cả. Song, nhìn chung, nội dung được đăng trên các trang facebook là khá giống nhau giữa các công ty này.
Hiện nay các bài viết bao gồm:
  • Tin và các hoạt động xã hội của công ty
  • Các Event
  • Các Video
  • Những câu chuyện về lịch sử phát triển hay hiện tại trong chăm sóc sức khỏe nói chung
  • Những câu chuyện có thật về bệnh nhân, bác sĩ, hoặc nhân viên
  • Những ngày kỷ niệm lớn, ngày quốc tế của bệnh, chẳng hạn như ngày Viêm phổi Thế giới (12 tháng 11)
  • Các bài infographics
  • Các cơ hội nghề nghiệp.
Hình 2 : Ví dụ về các bài viết từ các công ty dược phẩm: Pfizer sử dụng hashtags và video để nâng cao nhận thức về ngày Viêm phổi thế giới; chiến dịch video của J&J trong một tab riêng biệt; GSK cập nhật vaccine Ebola với nhiều lượt share và comment ; Novartis “khoe” Infographic về bệnh từ tài khoản Pinterest của họ.
Hình 2 : Ví dụ về các bài viết từ các công ty dược phẩm: Pfizer sử dụng hashtags và video để nâng cao nhận thức về ngày Viêm phổi thế giới; chiến dịch video của J&J trong một tab riêng biệt; GSK cập nhật vaccine Ebola với nhiều lượt share và comment ; Novartis “khoe” Infographic về bệnh từ tài khoản Pinterest của họ.
Nhiều trong số đó gặt hái được những thành công trong việc “câu kéo” người đọc, để có được nhiều like, share trên mỗi bài viết, cũng như một số comment (nhất là với những chủ đề đặc biệt, như Ebola). Sự tham gia mạnh mẽ hơn đi kèm trong các cuộc thi, chẳng hạn như cuộc thi nhiếp ảnh về bệnh hen phế quản của Boehringer Ingelheim (BI’s asthma photography contest). Đây là cơ hội để mọi người tham gia vào việc xây dựng nội dung cũng như nâng cao nhận thức về một lĩnh vực điều trị mà không bị mang tiếng quảng cáo và cũng không liên quan đến tên sản phẩm.
Hình 3 : Ảnh bìa của BI trong contest và kết nối với một chiến dịch Instagram trên trang Facebook của họ.
Hình 3 : Ảnh bìa của BI trong contest và kết nối với một chiến dịch Instagram trên trang Facebook của họ.
Cao tay hơn, J & J không chỉ đặt ra những câu hỏi mang tính tổng quát cho các fans, mà còn cũng các fans tham gia vào các cuộc thảo luận sau đó. Phản hồi từ các công ty rất được khách hàng đánh giá cao, và các cuộc đối thoại sẽ giúp xây dựng danh tiếng. Lưu ý rằng chìa khóa để tránh các vấn đề pháp lý là: Hãy hỏi một cái gì đó không đề cập đến các sản phẩm hoặc không dẫn đến các sự kiện bất lợi.
Hình 4 : J & J hỏi các fans về chủ đề Halloween.
Hình 4 : J & J hỏi các fans về chủ đề Halloween.
Tất nhiên cũng sẽ có nhiều comments bị gỡ bỏ và sự từ chối này hầu hết được các công ty dược phẩm vin vào cớ : comments có liên quan đến những tác dụng không mong muốn hoặc chưa được chứng minh của thuốc. Điều này được thể hiện rõ nhất bằng việc có thêm một tab với các tên khác nhau như là ‘Nguyên tắc cộng đồng ” hoặc “Comment Missing ?’ trên Facebook của J & J, Pfizer và Novartis. Cũng khá dễ hiểu và thân thiện bởi những điều khoản này sẽ giúp giảm bớt sự thất vọng của khách hàng khi không thấy comment của mình đâu.
Hình 6 : Tab Comment Missing cho khách hàng trên trang Facebook của Pfizer rất rõ ràng và thân thiện về điều khoản comment của công ty.
Hình 6 : Tab Comment Missing cho khách hàng trên trang Facebook của Pfizer rất rõ ràng và thân thiện về điều khoản comment của công ty.
Tầm quan trọng của sự tham gia
Đây chỉ là một cái nhìn nhỏ về cách thức các công ty dược phẩm đang sử dụng Facebook trong truyền tải thông điệp của mình tới công chúng. Mặc dù không gian có vẻ hạn chế, vẫn còn chỗ cho sự sáng tạo trong việc cung cấp thông tin hấp dẫn trong mà vẫn tuân thủ các quy định. Cách dễ nhất để thúc đẩy sự tham gia và tương tác là thông qua các cuộc thi, các câu đố, trò chuyện về cuộc sống hàng ngày, trò chơi và các hoạt động khác mà vượt qua mức ‘like’.
Như đã đề cập trước đó, Facebook đã cho phép người dùng không chỉ trò chuyện với bạn bè, mà còn với các công ty. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng, công ty và khách hàng trở thành bạn bè thông qua các cuộc đối thoại cởi mở và sự minh bạch trong quản lý, để đạt được sự tin tưởng và ủng hộ của những người mà họ phục vụ.

Posted By Unknown6:09 AM

Sử dụng acetaminophen trong thai kỳ và chứng tự kỷ , rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ ?

Filled under:

cetaminophen là một trong số ít các thuốc giảm đau nhìn chung là an toàn để sử dụng trong suốt thời gian mang thai. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới cho thấy rằng acetaminophen không an toàn đến vậy khi kết quả cho thấy mối liên kết giữa việc phơi nhiễm với thuốc trước khi sinh với các triệu chứng của chứng tự kỷ và rối loạn tăng động giảm chú ý.
Nghiên cứu được thực hiện bởi Trung tâm nghiên cứu dịch tễ học môi trường (CREAL) ở Barcelona, Tây Ban Nha – xuất bản trên Tạp chí quốc tế về dịch tễ học.4
Với tên gọi khác là paracetamol, acetaminophen là một trong các thuốc OTC ( thuốc không kê đơn) được dùng phổ biến nhất trong lúc mang thai. Khoảng 65% phụ nữ mang thai ở Hoa Kỳ đã dùng nó với mục đích giảm đau. 1
Tất cả phụ nữ có thai cần được tư vấn y khoa trước khi dùng bất kỳ loại thuốc nào; nhưng hầu hết với những người chuẩn bị làm mẹ, acetaminophen được xem là an toàn. Nghiên cứu của CDC – Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ năm 20102 cho thấy không có nguy cơ gia tăng các dị tật bẩm sinh khi sử dụng acetaminophen trong thời kỳ tam cá nguyệt thứ nhất; thậm chí có vài nghiên cứu cho rằng nó còn làm giảm nguy cơ dị tật bẩm sinh.
Tuy nhiên, có một số bằng chứng chỉ ra việc sử dụng acetaminophen trong thời kỳ mang thai có thể can thiệp đến sự phát triển thần kinh của trẻ. Năm 2014, một nghiên cứu được ấn bản trên tạp chí Nhi khoa JAMA công bố rằng những bà mẹ dùng acetaminophen trong lúc mang thai nhiều khả năng có con với các hành vi liên quan đến rối loạn tăng động giảm chú ý. 3
Đánh giá mối liên hệ giữa acetaminophen với chứng tự kỷ và rối loạn tăng động giảm chú ý.
Với nghiên cứu mới nhất này, tác giả chính Claudia Avella-Garcia và các cộng sự tại CREAL tiếp tục điều tra mối liên hệ  giữa việc sử dụng acetaminophen trong thai kỳ và bệnh rối loạn tăng động giảm chú ý trong số các trẻ sinh ra cũng như xác định xem liệu có thể có liên quan đến chứng tự kỷ hay không.

Nghiên cứu gồm 2,644 phụ nữ mang thai; đến tuần thứ 12 và 32 của thai kỳ, các bà mẹ được yêu cầu hoàn thành bảng câu hỏi về việc họ có dùng acetaminophen trong tháng trước khi mang thai hay trong giai đoạn mang thai hay không. Đồng thời, họ cũng được hỏi tần suất dùng thuốc ; tuy nhiên khó đánh giá chính xác liều lượng đã sử dụng vì lý do “không nhớ được.”
Sự phát triển hệ thần kinh được đánh giá ở 88% trẻ ở độ tuổi 1 tuổi và có 79.9% trẻ được đánh giá lúc 5 tuổi. Với thời điểm trẻ 1 tuổi, việc đánh giá dựa vào thang điểm phát triển trẻ sơ sinh Bayley (BSID); trong khi đó một số test như thang điểm McCarthy về khả năng của trẻ (MCSA) và test “phổ tự kỷ” ở trẻ (CAST) dùng để đánh giá lúc trẻ 5 tuổi.
Phơi nhiễm với acetaminophen trước sinh liên quan đến chứng tự kỷ ở các bé trai:
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành đánh giá 43% trẻ lúc 1 tuổi và 41% trẻ lúc 5 tuổi. Những trẻ này có mẹ sử dụng acetaminophen trong vòng 32 tuần đầu tiên của thai kỳ.
Khi so sánh với những trẻ được sinh ra bởi các bà mẹ không dùng acetaminophen trong suốt thời gian mang thai, các tác giả phát hiện rằng 30% trẻ có mẹ dùng acetaminophen trong 32 tuần đầu tiên của thai kỳ tăng khả năng bị giảm chú ý lúc 5 tuổi, thường thấy ở trẻ bị tự kỷ hay rối loạn tăng động giảm chú ý.
Những trẻ trước khi sinh có phơi nhiễm với acetaminophen cũng tăng khả năng có các triệu chứng tăng động hoặc bốc đồng lúc 5 tuổi. Những trẻ phơi nhiễm liên tục, dai dẳng với thuốc hoàn thành các bài test về sự chú ý, bốc đồng và tốc độ xử lý hình ảnh kém hơn.
Hơn thế nữa, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng các bé trai phơi nhiễm với acetaminophen trước khi sinh nhiều khả năng có các triệu chứng lâm sàng của chứng tự kỷ hơn so với các bé trai không phơi nhiễm và tần suất mắc các triệu chứng này càng tăng ở những trẻ phơi nhiễm liên tục kéo dài.
Phát hiện này có thể giải thích tại sao các bé trai gia tăng khả năng mắc chứng tự kỷ hơn so với các bé gái. – nhóm nghiên cứu cho biết
Avella-Garcia nói rằng: “ Bộ não của đàn ông có lẽ dễ bị tổn thương hơn bởi các ảnh hưởng bất lợi trong suốt giai đoạn đầu đời. Kết quả sự khác biệt giới tính của chúng tôi cho rằng sự rối loạn nội tiết tố androgen có thể giải thích cho mối liên quan này – làm cho bộ não của đàn ông nhạy cảm hơn”.
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu nói rằng phát hiện của họ cho thấy trẻ em phơi nhiễm với acetaminophen trong bụng mẹ có nguy cơ mắc các triệu chứng của chứng tự kỷ hoặc rối loạn tăng động giảm chú ý cao hơn.
“…mặc dù chúng tôi chỉ đánh giá các triệu chứng và không có chẩn đoán, sự gia tăng một số triệu chứng mà trẻ mắc phải có thể ảnh hưởng đến trẻ, thậm chí nếu các triệu chứng đó không đủ nghiêm trọng để cảnh báo một chẩn đoán lâm sàng của sự rối loạn phát triển thần kinh.” – Claudia Avella-Garcia
Các bà mẹ tương lai đừng nên lo lắng!

Trong khi các nhà nghiên cứu không thể xác định chắc chắn mối liên quan này nhưng họ chú ý thấy các thuốc giảm đau bằng cách nhằm vào các thụ thể cannabinoid trong não – điều này có thể dẫn đến sự giảm kết nối giữa các tế bào thần kinh.
Đồng tác giả nghiên cứu, tiến sĩ Jordi Júlvez tại CREAL cho biết: “ Nó cũng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống miễn dịch hoặc gây độc trực tiếp đến một số bào thai – do không có khả năng chuyển hóa thuốc này như ở người trưởng thành, hoặc tạo ra stress oxy hóa.”
Các nhà nghiên cứu kết luận cần có nhiều nghiên cứu hơn trong tương lai để nắm rõ hơn ảnh hưởng của acetaminophen lên sự phát triển bộ não của thai nhi như thế nào.
Tiến sĩ James Cusack, giám đốc khoa học tại Autistica – nhà từ thiện chứng tự kỷ ở Anh Quốc – cho rằng các bà mẹ trong tương lai không nên lo lắng quá về việc dùng thuốc trong thời gian mang thai. Ông phát biểu với tờ báo Independent rằng: “ Nghiên cứu này không cung cấp bằng chứng đủ mạnh để hỗ trợ cho tuyên bố rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa việc dùng paracetamol với sự xuất hiện các triệu chứng tự kỷ. Kết quả chỉ là giới thiệu sơ bộ vì thế các gia đình và phụ nữ có thai không nên lo lắng.”
“Như các tác giả đã phát biểu đúng đắn rằng cần nhiều nghiên cứu hơn với việc kiểm soát các yếu tố khác một cách cẩn thận để tìm xem liệu có mối liên quan nào tồn tại hay không.”


DS. Trần Lưu Hưng Nguyên (lược dịch)

Posted By Unknown6:07 AM

Hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh

Filled under:

Đã làm cha mẹ thì ai cũng dành cho con mình tình thương yêu vô bờ. Lo cho con từ lúc lọt lòng đến từng miếng ăn lẫn giấc ngủ. Nhưng ít ai biết được, có một mối nguy hiểm rình rập và có thể lấy mạng con không bao giờ báo trước mang tên: hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh- SIDS
Hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh là gì

Hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (Sudden Infant Death Syndrome – SIDS) là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho các trẻ từ 1 tháng tuổi đến 12 tháng tuổi. Với hơn 90% trường hợp tử vong ở trẻ nhỏ hơn 6 tháng tuổi, trong đó phổ biến nhất là các trẻ từ 2 – 4 tháng tuổi. SIDS thường xuất hiện khi trẻ đang ngủ. Theo CDC, trong năm 2014 đã có khoảng 1.500 trẻ chết do SIDS tại Mỹ, còn tính trên toàn thế giới thì có đến 22.000 trẻ tử vong liên quan tới hội chứng này năm 2010.
Hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh được xác định khi trẻ dưới 1 tuổi tử vong mà không tìm được nguyên nhân sau khi khám nghiệm, bao gồm đã mổ tử thi và xem xét lại sở sức khỏe của bé.
Phòng ngừa

Để ngăn ngừa hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh, bạn có thể tham khảo Guideline của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics – AAP), đây là những lời khuyên dựa trên cơ sở y học chứng cứ. Kể từ năm 1992, khi AAP khuyên nên đặt trẻ nằm ngửa khi ngủ đã giúp tỷ lệ SIDS giảm đáng kể, tuy nhiên còn nhiều yếu tố ảnh hưởng khác nữa đang dần được khám phá và cập nhật. Nếu có điều kiện bạn nên tham khảo toàn văn Guideline tại đây, chúng tôi xin tóm tắt 1 số điểm chính của Guideline như sau:
  • Đặt trẻ nằm ngửa mỗi khi ngủ: trẻ nhỏ hơn 1 tuổi nên luôn luôn nằm ngửa khi ngủ ban đêm hoặc các giấc ngủ ngắn ban ngày. Tuy nhiên, nếu con của bạn tự lật sang nằm nghiêng hoặc nằm sấp nhưng có khả năng tự lật về vị trí nằm ngửa thì bạn không cần phải sửa tư thế ngủ cho bé. Nếu bé ngủ trên xe, trên nôi, xích đu thì nên đưa bé về một nơi có bề mặt cứng ngay khi có thể.
  • Để trẻ ngủ trên bề mặt cứng: kiểm tra lại cũi, nôi, nôi xách tay xem đã đáp ứng tiêu chuẩn này hay chưa. Kiểm tra xem sản phẩm bạn đang dùng có bị thu hồi hay không. Không sử dụng cũi bị gãy hay thiếu bộ phận, hoặc mất thanh ngang. Bọc nệm bằng 1 tấm trải. Không để mền hoặc gối ở giữa nệm và tấm trải này. Không bao giờ đặt con bạn ngủ trên ghế dựa, sofa, gối nằm người lớn, nệm nước, tấm lông thú. Bạn có thể tham khảo thêm chất liệu nào phù hợp cho bé nằm ngủ ở địa chỉcpsc.gov
  • Đặt những vật bé có thể ngặm hoặc làm tăng nguy cơ nghẹt thở tránh xa nơi ngủ của bé. Gối, mền, khăn trải giường, tấm lông thú, tấm chắn củi, và những đồ chơi có thể làm bé ngạt thở nên đặt nằm ngoài phạm vi của trẻ. Chú ý, nghiên cứu không chỉ ra khi nào thì những đồ vật này an toàn cho trẻ nhưng các chuyên gia đồng thuận rằng, nguy cơ gây hại cho trẻ trên 12 tháng tuổi là đủ nhỏ để an toàn cho trẻ.
  • Cho trẻ ngủ chung phòng nhưng không chung giường (room-sharing without bed-sharing): đặt nôi hoặc cũi của bé trong vòng 1 cánh tay với giường của bạn. Điều này giúp bạn dễ dàng quan sát cũng như cho bé bú. Các nghiên cứu chỉ ra nguy cơ hội chứng đột tử xảy ra cao hơn ở những bé ngủ chung với bố mẹ. Ba mẹ có thể đè lên bé hoặc chúng có thể làm rối rắm chăn gối.
  • Bú sữa mẹ nhiều và lâu nhất có thể: y học đã chứng minh nuôi con bằng sữa mẹ sẽ giúp giảm nguy cơ đột tử ở trẻ sơ sinh.
  • Không cho bé lại gần những người hút thuốc hoặc những nơi dành cho người hút thuốc: nếu bạn hút thuốc, tốt nhất nên bỏ thuốc trước khi mang thai. Tuy nhiên, nếu bạn hoặc người thân trong gia đình chưa bỏ thuốc, tốt nhất không nên hút trong nhà và trong xe hơi của bạn.
  • Tiêm ngừa đầy đủ cho trẻ: bạn nên đưa bé đi đến bác sĩ theo lịch đã định sẵn và tiêm đầy đủ các mũi vaccine. Tiêm phòng đầy đủ cho trẻ ngoài tác dụng phòng bệnh còn có bằng chứng chứng minh sẽ giúp giảm nguy cơ SIDS cho trẻ.
  • Cho trẻ ngậm ti giả khi ngủ: điều này thực sự giảm nguy cơ của SIDS. Nếu bạn nuôi con bằng sữa mẹ, hãy đợi cho đến khi sữa mẹ xuống tốt trước khi cho trẻ ngậm ti, thông thường mất từ 3 – 4 tuần. Nếu trẻ không muốn dùng ti thì đừng cố ép trẻ, bạn có thể thử lại vài lần nhưng nhiều trẻ thật sự không thích ngậm núm vú giả. Nếu trẻ của bạn làm rơi ti trước khi ngủ, không cần thiết phải đặt lại vào miệng trẻ.
  • Đừng để phòng quá nóng: giữ nhiệt độ phòng luôn ở mức dễ chịu. Không mặc cho bé nhiều hơn 1 lớp quần áo so với bạn. Bé của bạn có thể quá nóng nếu bé đổ mồ hôi hoặc ngực của bé thấy nóng. Nếu bạn lo sợ bé bị lạnh, có thể sử dụng quần áo ngủ của trẻ sơ sinh được thiết kế để giữ ấm, không trùm đầu hoặc làm cho đầu bé quá nóng.
  • Không nên sử dụng các loại máy theo dõi tim phổi để giảm nguy cơ SIDS. Thiết bị theo dõi tim phổi tại nhà chỉ phù hợp cho các bé có vấn đề về tim mạch hoặc hô hấp nhưng không được chứng minh có thể giúp giảm nguy cơ SIDS. Đồng thời, các thiết bị khác được quảng cáo giúp giảm nguy cơ SIDS (nệm, tấm lót…) cũng không được khuyên dùng bởi thật sự chúng chẳng mang lại lợi ích gì ngoài việc lấy đi tiền của bạn.

Xin lưu ý, nếu bạn đã thực hiện tất cả những hướng dẫn trên đây thì không có nghĩa con bạn đã hoàn toàn tránh được nguy cơ SIDS, trẻ có thể bị đột tử bất kỳ lúc nào mà không có triệu chứng báo trước. Tuy nhiên, bạn cần hiểu rõ rằng đây là một hội chứng được xếp vào nhóm “bệnh hiếm” và khả năng nó sẽ xảy ra với con của bạn chỉ vào khoảng 54/100.000.

Posted By Unknown6:05 AM

DNA tổn thương gây bệnh như thế nào?

Filled under:

Nghiên cứu mới từ Viện Khoa học Sức khỏe Môi trường Quốc gia Hoa Kỳ (National Institute of Environmental Health Sciences – NIEHS) đã lần đầu tiên xác định cách những phân tử bị phá hủy có thể chèn vào chuỗi DNA. Những phân tử này có thể góp phần gây ra một số bệnh như ung thư, đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch và bệnh phổi do chúng gây ra sự chết tế bào.
DNA-Damage_SS_110813-617x416
Kết quả nghiên cứu của họ công bố trên tạp chí Nature, các nhà nghiên cứu từ NIEHS mô tả cách họ sử dụng kỹ thuật chụp tinh thể tua nhanh thời gian (time-lapse crytallography) để chụp lại cảnh các phản ứng hóa sinh xảy ra trong tế bào.Với kỹ thuật này, các nhà nghiên cứu có thể quan sát cách DNApolymerase dệt nên chuỗi DNA từ các nucleotide.
Họ cũng chứng kiến cách các DNA bị tổn thương được chèn vào chuỗi, nó tạo ra một vết nứt mà cơ chế sửa sai DNA bình thường không thể sửa chữa.
TS. Samuel Wilson – nhà nghiên cứu cấp cao trong nhóm cho biết: “Vùng nucleotide tổn thương giống với đoạn bị thiếu trong đường tàu. Khi động cơ va vào nó thì đoàn tàu sẽ nhảy qua và toàn bộ toa tàu va chạm vào nhau.”
TS. Wilson cho rằng tổn thương nucleotide gây ra bởi “stress oxi hóa”. Điều này tạo ra các nguyên tử oxy tự do tương tự như việc phơi nhiễm với hóa chất, tia tử ngoại hay các yếu tố môi trường khác.
Nucleotide bị oxy hóa khi chúng nhận một nguyên tử oxy. Các nucleotide bị oxy hóa thường bị giữ chặt hơn nhưng nếu chúng bắt đầu trở nên nhiều hơn số nucleotide không tổn thường thì DNA polymerase sẽ thêm chúng vào chuỗi.
TS. Wilson giải thích:
“Khi một trong số các nucleotide bị oxy hóa được đặt vào trong chuỗi DNA, nó không thể bắt cặp với nucleotide đối diện như bình thường, điều này tạo ra một ô trống trong DNA. Trước nghiên cứu này, chưa ai quan sát được cách polymerase thực hiện điều này hay hiểu được sự liên quan này.”
Nhóm nghiên cứu cũng đề nghị rằng các chất chống oxy hóa có thể làm giảm mức độ oxy hóa nucleotide, ngăn ngừa một số bệnh tiềm năng xảy ra.
Sau khi DNA polymerase (màu xám) chèn một nucleotide bị tổn thương vào DNA, nucleotide bị tổn thương không thể liên kết với nucleotide đối diện. Kết quả là nucleotide bị tổn thương treo tự do trong DNA, ảnh hưởng đến chức năng sửa chữa hay gây ra việc gãy chuỗi đôi. Những bước này cuối cùng dẫn đến những căn bệnh nghiêm trọng ở người. - Nguồn: NIEHS
Sau khi DNA polymerase (màu xám) chèn một nucleotide bị tổn thương vào DNA, nucleotide bị tổn thương không thể liên kết với nucleotide đối diện. Kết quả là nucleotide bị tổn thương treo tự do trong DNA, ảnh hưởng đến chức năng sửa chữa hay gây ra việc gãy chuỗi đôi. Những bước này cuối cùng dẫn đến những căn bệnh nghiêm trọng ở người. – Nguồn: NIEHS
Các nucleotide bị oxy hóa có thể hữu ích cho việc tiêu diệt tế bào ung thư?
Mặc dù sự phá vỡ trong chuỗi DNA gây ra bởi các nucleotide bị oxy hóa có thể thúc đẩy tiến triển bệnh do tiêu diệt tế bào nhưng các nhà nghiên cứu cũng đưa ra lợi ích tiềm năng có thể có trong việc kiểm soát quá trình tiêu diệt tế bào ung thư.
TS. Bret Freudenthal , người đứng đầu nghiên cứu giải thích rằng tế bào ung thư có xu hướng stress oxy hóa nhiều hơn tế bào bình thường:
“Tế bào ung thư tránh được chuyện này do sử dụng một enzym có thể loại bỏ nucleotide bị oxy hóa mà những cái khác sẽ bị chèn vào hệ gen bởi DNA polymerase. Nghiên cứu tiến hành bởi nhóm khác xác định rằng khi ức chế enzym này thì có thể tiêu diệt tế bào ung thư một cách ưu tiên.”
Nghiên cứu khác gần đây cũng khảo sát cách tế bào sao chép nhiễm sắc thể khi chúng phân chia. Quá trình sao chép này là một yếu tố quan trọng trong nghiên cứu ung thư vì nó cho rằng khi sai sót xảy ra trong quá trình sao chép nhiễm sắc thể thì tế bào trở nên bất thường

Posted By Unknown6:01 AM

BLVD

Filled under:

Posted By Nguyen Minh Quang9:02 PM

Bệnh Alzheimer

Filled under:

ệnh Alzheimer là một chứng mất trí phổ biến nhất. Vào năm 1906, lần đầu tiên bác sĩ tâm thần và thần kinh học người Đức Alois Alzheimer đã chỉ ra rằng căn bệnh này không thể chữa được, mang tính thoái hóa và gây tử vong. Năm 2006 có 26,6 triệu người mắc bệnh Alzheimer trên toàn thế giới. Dự đoán tỉ lệ mắc Alzheimer trên thế giới sẽ là 1/85 vào năm 2050.
1. Bệnh Alzheimer là gì?
Năm 1901, Alois Alzheimer trình bày trường hợp của bệnh nhân tên Auguste D., 50 tuổi, bị mất trí. Trong thế kỷ XX, từ “bệnh Alzheimer” thường chỉ dùng để định bệnh cho những người mất trí nhớ tuổi 45 đến 65 (“lẫn trước khi già”, “lẫn sớm”). Những người lớn tuổi hơn mà bị mất trí được coi như là chuyện thông thường, do tuổi cao làm “não bộ tê cứng”.
Trong những năm 1970 – 1985, khoa học nhận thấy người mất trí ở các lứa tuổi khác nhau lại có triệu chứng lâm sàng giống nhau. Bệnh này thường xuất hiện ở người trên 65 tuổi, tuy nhiên vẫn có nhiều trường hợp Alzheimer xảy ra sớm hơn rất nhiều.
Mặc dù các ca bệnh Alzheimer có đặc điểm riêng biệt đối với mỗi cá nhân, tuy nhiên có nhiều triệu chứng tương đồng xuất hiện sớm thường giống với các bệnh “liên quan đến tuổi già”, hoặc biểu hiện của stress. Trong giai đoạn đầu, triệu chứng phổ biến nhất là không có khả năng để nhớ được việc vừa xảy ra. Khi nghi ngờ mắc bệnh Alzheimer, chẩn đoán thường được thực hiện bằng cách đánh giá hành vi và kiểm tra nhận thức, có thể kèm theo chụp cắt lớp não.
Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng bao gồm sự nhầm lẫn, khó chịu, thay đổi tâm trạng, mất khả năng phân tích ngôn ngữ, mất trí nhớ dài hạn, suy giảm các giác quan. Dần dần, cơ thể sẽ mất đi một số chức năng, cuối cùng dẫn đến cái chết. Bệnh Alzheimer có thể phát triển tiềm tàng trong một thời gian dài trước khi xuất hiện những triệu chứng có thể phát hiện được bệnh.
Thông thường khi các triệu chứng này bộc lộ, thì người bệnh chỉ có thể sống được khoảng 7 năm, dưới 3% bệnh nhân sống thọ thêm 14 năm sau khi phát hiện bệnh.
2. Đặc điểm bệnh Alzheimer
Bệnh được chia thành bốn giai đoạn, với những thay đổi nhận thức và suy yếu các chức năng.
2.1. Giai đoạn trước khi mất trí nhớ
Các triệu chứng đầu tiên thường bị nhầm lẫn là có liên quan đến lão hóa hoặc stress. Người ta nghiên cứu thấy bệnh nhân có những khó khăn nhỏ trong việc nhận thức xảy ra từ khoảng 8 năm trước khi họ có đầy đủ triệu chứng để được chẩn đoán mắc Alzheimer. Những triệu chứng sớm có thể ảnh hưởng đến những sinh hoạt hàng ngày phức tạp nhất. Đáng chú ý nhất là giảm trí nhớ như khó khăn trong việc nhớ các sự kiện gần đây đã học được và không có khả năng để tiếp thu các thông tin mới.
Một số triệu chứng thoáng qua với các chức năng điều hành não bộ về sự chú tâm, khả năng lập kế hoạch, tính linh hoạt, và tư duy trừu tượng, hoặc suy yếu trong bộ nhớ dữ liệu có thể thấy trong giai đoạn sớm của bệnh Alzheimer. Sự thờ ơ cũng có thể thấy ở giai đoạn này, đồng thời cũng là đặc điểm thần kinh – tâm lý học kéo dài suốt quá trình tiến triển bệnh.
2.2. Giai đoạn nhẹ
Ở bệnh nhân Alzheimer, sự suy giảm ngày càng tăng về trí nhớ và khả năng học hỏi là yếu tố để chẩn đoán xác định bệnh. Ở một phần nhỏ bệnh nhân, triệu chứng khó khăn về ngôn ngữ, khó khăn về chức năng điều hành, nhận thức, hoặc chức năng thực hiện các hoạt động biểu hiện rõ hơn là suy giảm trí nhớ. Bệnh không ảnh hưởng đến tất cả các chức năng ký ức đồng đều nhau. Những kỷ niệm xưa, những điều đã được học (ngữ nghĩa, khái niệm…), và tiềm thức (trí nhớ về cách làm một số việc, ví dụ như cách dùng dĩa để ăn) bị ảnh hưởng ở một mức độ ít hơn những sự kiện vừa mới diễn ra.
Những vấn đề về ngôn ngữ chủ yếu là giảm vốn từ vựng và giảm sự lưu loát, dẫn đến suy giảm khả năng ngôn ngữ nói và viết. Trong giai đoạn này, người bệnh Alzheimer vẫn có khả năng giao tiếp cơ bản. Mặc dù họ vẫn thực hiện được các chức năng vận động như viết, vẽ hoặc mặc quần áo, nhưng một số khó khăn bắt đầu xuất hiện trong việc phối hợp cử động và lên kế hoạch, song những biểu hiện đó thường không được để ý tới. Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân thường vẫn có thể tự làm được nhiều việc, nhưng có thể cần giúp đỡ hoặc giám sát khi thực hiện các chức năng cần suy nghĩ.
2.3. Giai đoạn khá nặng
Sự thoái hóa tiến triển dẫn đến giảm khả năng tự lập, người bệnh mất dần khả năng thực hiện những vận động sinh hoạt hàng ngày. Khó khăn về ngôn ngữ rõ ràng hơn với những biểu hiện như không thể nhớ từ vựng, dẫn đến việc thường xuyên dùng sai từ thay thế. Khả năng đọc viết cũng mất dần. Khả năng phối hợp những chuỗi cử động phức tạp cũng giảm dần theo thời gian bệnh tiến triển, vì thế nên khả năng bị ngã cũng tăng lên. Trong giai đoạn này, các vấn đề ký ức trở nên kém dần đi, bệnh nhân có thể không nhận ra những người thân. Trí nhớ dài hạn cũng bị giảm dần, dù trong giai đoạn trước vẫn còn chưa bị ảnh hưởng.
Thay đổi trong hành vi và tâm lý cũng rõ hơn. Những biểu hiện thường gặp là đi lang thang, khó chịu và bất ổn, dẫn đến khóc, bùng nổ hoặc hung hăng một cách không chủ định, hoặc phản kháng lại sự chăm sóc của người thân. Hội chứng thay đổi tính khí lúc hoàng hôn có thể xuất hiện. Khoảng 30% bệnh nhân bị ảo giác. Bệnh nhân cũng không nhận thức được bệnh tình của bản thân mình và mất kiểm soát chức năng tiêu tiểu. Những triệu chứng này gây stress cho người thân hoặc người chăm sóc bệnh nhân. Điều đó có thể giảm bớt nếu thay việc chăm sóc bệnh nhân tại nhà bằng việc chuyển bệnh nhân đến các cơ sở điều dưỡng dài hạn.
2.4. Giai đoạn nặng
Trong giai đoạn cuối, bệnh nhân hoàn toàn phụ thuộc vào người chăm sóc. Ngôn ngữ giảm thiểu chỉ còn các cụm từ đơn giản hoặc thậm chí là những từ đơn lẻ, cuối cùng dẫn đến hoàn toàn mất tiếng nói. Dù đã mất khả năng ngôn ngữ bằng lời nói, bệnh nhân thường có thể hiểu và đáp lại các tín hiệu cảm xúc. Mặc dù sự hung hăng còn xuất hiện, nhưng sự thờ ơ và kiệt sức hoàn toàn vẫn biểu hiện nhiều hơn. Bệnh nhân cuối cùng không thể thực hiện ngay cả những công việc đơn giản nhất mà không cần trợ giúp. Việc thoái hóa các khối cơ và cử động dẫn đến việc người bệnh phải nằm liệt giường và mất khả năng tự ăn uống. Người bệnh Alzheimer sau đó thường sẽ chết bởi các tác nhân bên ngoài như nhiễm trùng các vết loét do nằm lâu ngày, viêm phổi… chứ không phải do bản thân bệnh.
3. Nguyên nhân
Các nhà khoa học đã đưa ra một số giả thuyết để giải thích nguyên nhân của bệnh này:
3.1. Giải thuyết dẫn truyền thần kinh bằng acetylcholin
Giả thuyết này là cơ sở cho đa số các loại thuốc điều trị hiện nay. Nó đề xuất rằng bệnh Alzheimer là do giảm tổng hợp của chất truyền đạt thần kinh acetylcholin. Tuy nhiên giả thuyết cholinergic đã không được ủng hộ gần đây, chủ yếu vì thuốc dùng để điều trị thiếu hụt acetylcholine thực sự không có hiệu quả đối với bệnh nhân. Các hiệu ứng liên quan đế hệ thống truyền đạt thần kinh bằng acetylcholin khác cũng được đề xuất, như việc tích tụ số lượng lớn các amyloid, dẫn đến việc viêm thần kinh lan dần.
3.2. Giả thuyết amyloid (1991)
Giải thuyết này cho rằng sự tích tụ của amyloid beta (Aβ) là nguyên nhân cơ bản của bệnh. Một cơ sở ủng hộ giả thuyết này là do vị trí của gen sản xuất protein tiền chất amyloid (APP) nằm trên nhiễm sắc thể 21 trong khi những người mắc hội chứng Down (có 3 nhiễm sắc thể 21) tức là có thêm một phiên bản của gen APP thì hầu hết đều mắc bệnh Alzheirmer ở độ tuổi trên 40. Đồng thời, đột biến gen APOE4, một yếu tố nguy cơ di truyền của bệnh Alzheimer, gây ra việc tích tụ quá nhiều amyloid trong não trước khi có các biểu hiện của bệnh Alzheimer xuất hiện. Vì vậy sự tích tụ Aβ luôn có trước các biểu hiện bệnh Alzheimer trên lâm sàng. Một bằng chứng nữa là ở chuột bị biến đổi gen để biểu hiện một dạng đột biến của gen APP ở người đã cho thấy có các đám rối sợi amyloid và các bệnh lý của não tương tự trong bệnh Alzheimer như sự suy giảm khả năng học hỏi về không gian.
Một loại vắc-xin thử nghiệm đã cho thấy khả năng loại bỏ các mảng rối amyloid trong 1 giai đoạn thử nghiệm lâm sàng sớm trên con người, nhưng nó không có tác động đáng kể đến việc mất trí nhớ. Các nhà nghiên cứu đã dẫn đến nghi ngờ những đoạn Aβ ngắn – tập hợp của một số đơn phân Aβ (không phải dạng mảng) là dạng Aβ gây bệnh chủ yếu. Những đoạn ngắn này có độc tính, còn được gọi là phối tử có nguồn gốc amyloid khuyếch tán được Chúng liên kết với thụ thể bề mặt của nơ-ron thần kinh và thay đổi cấu trúc của xy-náp thần kinh do đó ngăn cản dẫn truyền tín hiệu thần kinh.
Một thụ thể của Aβ có thể là protein prion, cùng loại protein có liên quan đến bệnh bò điên và 1 bệnh tương tự ở người là bệnh Creutzfeldt-Jakob, do đó có sự liên quan giữa các cơ chế của các bệnh thần kinh đó với cơ chế của bệnh Alzheimer.
3.3. Năm 2009
Lý thuyết này đã được cập nhật rằng một họ hàng gần của protein amyloid beta (không nhất thiết phải là chính amyloid beta) có thể là thủ phạm chính trong căn bệnh này. Lý thuyết này cho rằng một cơ chế liên quan với amyloid – có tác dụng cắt bỏ bớt các cầu nối thần kinh trong não bộ trong giai đoạn phát triển nhanh chóng ở trẻ con – có thể bị kích hoạt bởi quá trình lão hóa sau này, làm mất dần tế bào thần kinh ở bệnh Alzheimer. N-APP, một đoạn ở phía đầu amine của protein APP, nằm cạnh đoạn amyloid beta và được cắt bỏ khỏi APP bởi cùng 1 loại enzyme. N-APP kích hoạt chuỗi phản ứng tự hủy bằng cách bám vào một thụ thể thần kinh gọi là thụ thể chết 6 (DR6, hay còn gọi là TNFRSF21).[43] DR6 được biểu hiện nhiều ở những vùng não bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi bệnh Alzheimer, vì vậy rất có thể chuỗi phản ứng N-APP/DR6 của quá trình lão hóa của não đã bị kích hoạt để gây bệnh. Trong mô hình này, amyloid beta đóng vai trò bổ sung, bằng cách làm giảm chức năng xy-náp.
Một nghiên cứu vào năm 2004 đã thấy rằng sự tích tụ các mảng amyloid không tương quan nhiều lắm với việc mất các nơ-ron. Nghiên cứu đó hỗ trợ cho giả thuyết tau là các thể bất thường của protein tau khởi đầu cho chuỗi phản ứng gây bệnh. Trong mô hình này, các protein tau bị photphorylate hóa quá nhiều sẽ bắt cặp với các sợi tau khác. Cuối cùng, chúng hình thành các đám rối sợi thần kinh bên trong thân tế bào thần kinh. Khi điều đó xảy ra, các vi ống tế bào bị tan rã, làm hỏng hệ thống vận chuyển của nơ ron. Điều này đầu tiên sẽ làm hỏng các chức năng liên lạc hóa sinh giữa các nơ-ron và sau đó gây chết tế bào. Virus Herpes simplex type 1 cũng được cho là là một nguyên nhân gây bệnh ở những người mạng gen apoE nhạy cảm với virus này.
3.4. Giả thuyết sự phá hủy myelin trong não do lão hóa
Sự mất mát myelin dẫn đến giảm khả năng dẫn truyền trong trục thần kinh, vì thế mất dần các nơ ron già cũ. Quá trình phân hủy myelin thải ra sắt cũng góp phần gây phá hủy thêm thần kinh. Quá trình sửa chữa myelin trong cân bằng nội môi góp phần vào sự tích tụ protein như các protein amyloid beta và tau.
3.5. Ứng kích ôxi hóa cũng là một nguyên nhân đáng kể trong việc hình thành bệnh.
Các bệnh nhân AD cho thấy 70% bị giảm mất tế bào ở nhân lục (locus coeruleus), nơi sản sinh ra hooc môn norepinephrine (ngoài chức năng là 1 chất truyền đạt thần kinh) thường khuyếch tán ở những chỗ giãn mạch như một chất kháng viêm nội sinh trong môi trường xung quanh nơ-ron, tế bào thần kinh đệm và các mạch máu trong các vùng vỏ não mới và hồi hải mã. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng norepinephrine kích thích các tế bào thần kinh đệm microglia ở chuột ngăn chặn sự sản xuất các cytokine do tác dụng của Aβ và sự thực bào của Aβ.[53] Điều đó cho thấy sự suy giảm nhân lục có thể là một nguyên nhân gây tăng sự tích tụ Aβ trong não bệnh nhân Alzheimer.
4. Cơ chế bệnh sinh
Người ta vẫn chưa biết chính xác sự biến đổi trong việc sản xuất và tích tụ peptide amyloid beta đến mức độ nào thì gây ra bệnh Alzheimer. Giả thuyết về amyloid chỉ ra sự tích tụ của peptide amyloid beta là sự kiện trọng tâm kích hoạt việc thoái hóa nơ ron. Sự tích tụ của các vi sợi (fibril) amyloid, được coi là dạng có độc tố làm ngăn cản cân bằng ion canxi trong tế bào, kích hoạt sự chết tế bào theo chương trình (apoptosis). Đồng thời, Aβ cũng tích tụ nhiều hơn trong ti thể ở tế bào của não bệnh nhân Alzheimer, và nó cũng ức chế chức năng của một số enzym và việc sử dụng glucose trong nơ ron.
Một số quá trình viêm và các cytokine có thể đóng vai trò trong bệnh học của AD. Viêm là dấu hiệu chung của việc hủy hoại mô ở bất cứ bệnh nào, và có thể là quá trình thứ cấp sau khi mô bị hủy hoại hoặc là 1 dấu hiệu của đáp ứng miễn dịch với bệnh.
Sự thay đổi trong việc phân bổ các neurotrophin (chất điều hòa sự sống, phát triển và chức năng của nơ-ron) và trong việc biểu hiện các thụ thể của chúng ví dụ như chất neurotrophin thu được từ não (brain derived neurotrophic factor – BDNF) cũng đã được mô tả trong bệnh Alzheimer.
5. Điều trị Alzheimer
Bệnh Alzheimer không thể chữa trị được và dần dần nó sẽ làm cho người bệnh không có khả năng đáp ứng những nhu cầu riêng của họ, cho nên việc chăm sóc phải được quản lý chặt chẽ trong quá trình của bệnh.
Trong giai đoạn đầu và giữa, sửa đổi môi trường sống và lối sống có thể tăng tính an toàn cho bệnh nhân và giảm gánh nặng cho người chăm sóc. Bệnh nhân có thể không có khả năng tự ăn uống, do đó, yêu cầu thực phẩm được cắt thành từng miếng nhỏ hoặc nghiền. Khi nuốt sẽ rất khó khăn, cho nên phải sử dụng các ống dẫn thức ăn. Trong trường hợp này, hiệu quả y tế và đạo đức của việc nuôi bệnh là một yếu tố quan trọng của những người chăm sóc và các thành viên trong gia đình.
Khi bệnh tiến triển, các vấn đề y tế khác nhau có thể xuất hiện, chẳng hạn như bệnh răng miệng, loét áp lực, suy dinh dưỡng, các vấn đề vệ sinh, da, hô hấp, hoặc nhiễm trùng mắt. Chăm sóc cẩn thận có thể ngăn chặn chúng.
6. Thuốc hỗ trợ điều trị Alzheimer
Các thuốc hiện nay chỉ có thể làm chậm quá sự tiến triển của Alzheimer, hiện FDA đã phê duyệt 5 thuốc sau đây:
Donepezil (ARICEPT): Tất cả các cấp độ bệnh
Galantamine (RAZADYNE): Nhẹ đến trung bình
Memantine (NAMENDA): Trung bình đến nặng
Rivastigmine (EXELON): Nhẹ đến trung bình
Tacrine (COGNEX): Nhẹ đến trung bình
7. Phòng chống Alzheimer
Các nghiên cứu dịch tễ đưa ra kết luận rằng các hoạt động như đánh cờ hoặc những mối tương tác xã hội có khả năng làm giảm nguy cơ mắc bệnh, mặc dù không tìm thấy được mối quan hệ nhân quả nào.
Hiện nay không có bất kỳ một bằng chứng dứt khoát nào hỗ trợ đặc biệt hiệu quả cho các biện pháp ngăn chặn hoặc trì hoãn sự khởi đầu của bệnh, tuy nhiên các nghiên cứu dịch tễ học đã đề xuất mối quan hệ giữa các yếu tố nhất định, chẳng hạn mối liên hệ giữa chế độ ăn uống, nguy cơ tim mạch, các sản phẩm dược phẩm, sản phẩm công nghệ thông tin, với khả năng số bệnh nhân ngày một tăng.
Mặc dù các yếu tố tim mạch, như tăng cholesterol, cao huyết áp, tiểu đường, và hút thuốc lá, được liên kết với một nguy cơ khởi phát và phát triển bệnh Alzheimer, nhưng statin là loại thuốc làm giảm cholesterol vẫn chưa chứng minh được hiệu quả trong việc ngăn ngừa hoặc cải thiện tiến trình phát triển bệnh. Chế độ ăn kiêng của người vùng Địa Trung Hải, trong đó bao gồm trái cây và rau quả, bánh mì, lúa mì và ngũ cốc khác, dầu ô liu, cá, và rượu vang đỏ có thể làm giảm rủi ro mắc bệnh Alzheimer.
Việc sử dụng vitamin không tìm thấy bằng chứng đủ hiệu quả để khuyến cáo trong việc phòng ngừa và chữa trị bệnh: như vitamin C, E, hoặc axit folic , có hoặc không có vitamin B12. Thử nghiệm kiểm tra acid folic (B9) và vitamin B khác không cho thấy bất kỳ liên kết quan trọng với suy giảm nhận thức.
Những người tham gia vào các hoạt động trí tuệ như đọc sách, chơi trò chơi hội đồng, hoàn thành câu đố ô chữ, chơi nhạc cụ, hoặc tương tác xã hội thường xuyên cho thấy giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Điều này tương thích với các lý thuyết dự trữ nhận thức, trong đó nêu rằng một số kinh nghiệm đời sống cho kết quả hoạt động thần kinh hiệu quả hơn việc cung cấp dự trữ một nhận thức cá nhân trong sự trì hoãn việc khởi đầu của những biểu hiện mất trí nhớ.

Posted By Nguyen Minh Quang8:25 AM