Bệnh Alzheimer

Filled under:

ệnh Alzheimer là một chứng mất trí phổ biến nhất. Vào năm 1906, lần đầu tiên bác sĩ tâm thần và thần kinh học người Đức Alois Alzheimer đã chỉ ra rằng căn bệnh này không thể chữa được, mang tính thoái hóa và gây tử vong. Năm 2006 có 26,6 triệu người mắc bệnh Alzheimer trên toàn thế giới. Dự đoán tỉ lệ mắc Alzheimer trên thế giới sẽ là 1/85 vào năm 2050.
1. Bệnh Alzheimer là gì?
Năm 1901, Alois Alzheimer trình bày trường hợp của bệnh nhân tên Auguste D., 50 tuổi, bị mất trí. Trong thế kỷ XX, từ “bệnh Alzheimer” thường chỉ dùng để định bệnh cho những người mất trí nhớ tuổi 45 đến 65 (“lẫn trước khi già”, “lẫn sớm”). Những người lớn tuổi hơn mà bị mất trí được coi như là chuyện thông thường, do tuổi cao làm “não bộ tê cứng”.
Trong những năm 1970 – 1985, khoa học nhận thấy người mất trí ở các lứa tuổi khác nhau lại có triệu chứng lâm sàng giống nhau. Bệnh này thường xuất hiện ở người trên 65 tuổi, tuy nhiên vẫn có nhiều trường hợp Alzheimer xảy ra sớm hơn rất nhiều.
Mặc dù các ca bệnh Alzheimer có đặc điểm riêng biệt đối với mỗi cá nhân, tuy nhiên có nhiều triệu chứng tương đồng xuất hiện sớm thường giống với các bệnh “liên quan đến tuổi già”, hoặc biểu hiện của stress. Trong giai đoạn đầu, triệu chứng phổ biến nhất là không có khả năng để nhớ được việc vừa xảy ra. Khi nghi ngờ mắc bệnh Alzheimer, chẩn đoán thường được thực hiện bằng cách đánh giá hành vi và kiểm tra nhận thức, có thể kèm theo chụp cắt lớp não.
Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng bao gồm sự nhầm lẫn, khó chịu, thay đổi tâm trạng, mất khả năng phân tích ngôn ngữ, mất trí nhớ dài hạn, suy giảm các giác quan. Dần dần, cơ thể sẽ mất đi một số chức năng, cuối cùng dẫn đến cái chết. Bệnh Alzheimer có thể phát triển tiềm tàng trong một thời gian dài trước khi xuất hiện những triệu chứng có thể phát hiện được bệnh.
Thông thường khi các triệu chứng này bộc lộ, thì người bệnh chỉ có thể sống được khoảng 7 năm, dưới 3% bệnh nhân sống thọ thêm 14 năm sau khi phát hiện bệnh.
2. Đặc điểm bệnh Alzheimer
Bệnh được chia thành bốn giai đoạn, với những thay đổi nhận thức và suy yếu các chức năng.
2.1. Giai đoạn trước khi mất trí nhớ
Các triệu chứng đầu tiên thường bị nhầm lẫn là có liên quan đến lão hóa hoặc stress. Người ta nghiên cứu thấy bệnh nhân có những khó khăn nhỏ trong việc nhận thức xảy ra từ khoảng 8 năm trước khi họ có đầy đủ triệu chứng để được chẩn đoán mắc Alzheimer. Những triệu chứng sớm có thể ảnh hưởng đến những sinh hoạt hàng ngày phức tạp nhất. Đáng chú ý nhất là giảm trí nhớ như khó khăn trong việc nhớ các sự kiện gần đây đã học được và không có khả năng để tiếp thu các thông tin mới.
Một số triệu chứng thoáng qua với các chức năng điều hành não bộ về sự chú tâm, khả năng lập kế hoạch, tính linh hoạt, và tư duy trừu tượng, hoặc suy yếu trong bộ nhớ dữ liệu có thể thấy trong giai đoạn sớm của bệnh Alzheimer. Sự thờ ơ cũng có thể thấy ở giai đoạn này, đồng thời cũng là đặc điểm thần kinh – tâm lý học kéo dài suốt quá trình tiến triển bệnh.
2.2. Giai đoạn nhẹ
Ở bệnh nhân Alzheimer, sự suy giảm ngày càng tăng về trí nhớ và khả năng học hỏi là yếu tố để chẩn đoán xác định bệnh. Ở một phần nhỏ bệnh nhân, triệu chứng khó khăn về ngôn ngữ, khó khăn về chức năng điều hành, nhận thức, hoặc chức năng thực hiện các hoạt động biểu hiện rõ hơn là suy giảm trí nhớ. Bệnh không ảnh hưởng đến tất cả các chức năng ký ức đồng đều nhau. Những kỷ niệm xưa, những điều đã được học (ngữ nghĩa, khái niệm…), và tiềm thức (trí nhớ về cách làm một số việc, ví dụ như cách dùng dĩa để ăn) bị ảnh hưởng ở một mức độ ít hơn những sự kiện vừa mới diễn ra.
Những vấn đề về ngôn ngữ chủ yếu là giảm vốn từ vựng và giảm sự lưu loát, dẫn đến suy giảm khả năng ngôn ngữ nói và viết. Trong giai đoạn này, người bệnh Alzheimer vẫn có khả năng giao tiếp cơ bản. Mặc dù họ vẫn thực hiện được các chức năng vận động như viết, vẽ hoặc mặc quần áo, nhưng một số khó khăn bắt đầu xuất hiện trong việc phối hợp cử động và lên kế hoạch, song những biểu hiện đó thường không được để ý tới. Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân thường vẫn có thể tự làm được nhiều việc, nhưng có thể cần giúp đỡ hoặc giám sát khi thực hiện các chức năng cần suy nghĩ.
2.3. Giai đoạn khá nặng
Sự thoái hóa tiến triển dẫn đến giảm khả năng tự lập, người bệnh mất dần khả năng thực hiện những vận động sinh hoạt hàng ngày. Khó khăn về ngôn ngữ rõ ràng hơn với những biểu hiện như không thể nhớ từ vựng, dẫn đến việc thường xuyên dùng sai từ thay thế. Khả năng đọc viết cũng mất dần. Khả năng phối hợp những chuỗi cử động phức tạp cũng giảm dần theo thời gian bệnh tiến triển, vì thế nên khả năng bị ngã cũng tăng lên. Trong giai đoạn này, các vấn đề ký ức trở nên kém dần đi, bệnh nhân có thể không nhận ra những người thân. Trí nhớ dài hạn cũng bị giảm dần, dù trong giai đoạn trước vẫn còn chưa bị ảnh hưởng.
Thay đổi trong hành vi và tâm lý cũng rõ hơn. Những biểu hiện thường gặp là đi lang thang, khó chịu và bất ổn, dẫn đến khóc, bùng nổ hoặc hung hăng một cách không chủ định, hoặc phản kháng lại sự chăm sóc của người thân. Hội chứng thay đổi tính khí lúc hoàng hôn có thể xuất hiện. Khoảng 30% bệnh nhân bị ảo giác. Bệnh nhân cũng không nhận thức được bệnh tình của bản thân mình và mất kiểm soát chức năng tiêu tiểu. Những triệu chứng này gây stress cho người thân hoặc người chăm sóc bệnh nhân. Điều đó có thể giảm bớt nếu thay việc chăm sóc bệnh nhân tại nhà bằng việc chuyển bệnh nhân đến các cơ sở điều dưỡng dài hạn.
2.4. Giai đoạn nặng
Trong giai đoạn cuối, bệnh nhân hoàn toàn phụ thuộc vào người chăm sóc. Ngôn ngữ giảm thiểu chỉ còn các cụm từ đơn giản hoặc thậm chí là những từ đơn lẻ, cuối cùng dẫn đến hoàn toàn mất tiếng nói. Dù đã mất khả năng ngôn ngữ bằng lời nói, bệnh nhân thường có thể hiểu và đáp lại các tín hiệu cảm xúc. Mặc dù sự hung hăng còn xuất hiện, nhưng sự thờ ơ và kiệt sức hoàn toàn vẫn biểu hiện nhiều hơn. Bệnh nhân cuối cùng không thể thực hiện ngay cả những công việc đơn giản nhất mà không cần trợ giúp. Việc thoái hóa các khối cơ và cử động dẫn đến việc người bệnh phải nằm liệt giường và mất khả năng tự ăn uống. Người bệnh Alzheimer sau đó thường sẽ chết bởi các tác nhân bên ngoài như nhiễm trùng các vết loét do nằm lâu ngày, viêm phổi… chứ không phải do bản thân bệnh.
3. Nguyên nhân
Các nhà khoa học đã đưa ra một số giả thuyết để giải thích nguyên nhân của bệnh này:
3.1. Giải thuyết dẫn truyền thần kinh bằng acetylcholin
Giả thuyết này là cơ sở cho đa số các loại thuốc điều trị hiện nay. Nó đề xuất rằng bệnh Alzheimer là do giảm tổng hợp của chất truyền đạt thần kinh acetylcholin. Tuy nhiên giả thuyết cholinergic đã không được ủng hộ gần đây, chủ yếu vì thuốc dùng để điều trị thiếu hụt acetylcholine thực sự không có hiệu quả đối với bệnh nhân. Các hiệu ứng liên quan đế hệ thống truyền đạt thần kinh bằng acetylcholin khác cũng được đề xuất, như việc tích tụ số lượng lớn các amyloid, dẫn đến việc viêm thần kinh lan dần.
3.2. Giả thuyết amyloid (1991)
Giải thuyết này cho rằng sự tích tụ của amyloid beta (Aβ) là nguyên nhân cơ bản của bệnh. Một cơ sở ủng hộ giả thuyết này là do vị trí của gen sản xuất protein tiền chất amyloid (APP) nằm trên nhiễm sắc thể 21 trong khi những người mắc hội chứng Down (có 3 nhiễm sắc thể 21) tức là có thêm một phiên bản của gen APP thì hầu hết đều mắc bệnh Alzheirmer ở độ tuổi trên 40. Đồng thời, đột biến gen APOE4, một yếu tố nguy cơ di truyền của bệnh Alzheimer, gây ra việc tích tụ quá nhiều amyloid trong não trước khi có các biểu hiện của bệnh Alzheimer xuất hiện. Vì vậy sự tích tụ Aβ luôn có trước các biểu hiện bệnh Alzheimer trên lâm sàng. Một bằng chứng nữa là ở chuột bị biến đổi gen để biểu hiện một dạng đột biến của gen APP ở người đã cho thấy có các đám rối sợi amyloid và các bệnh lý của não tương tự trong bệnh Alzheimer như sự suy giảm khả năng học hỏi về không gian.
Một loại vắc-xin thử nghiệm đã cho thấy khả năng loại bỏ các mảng rối amyloid trong 1 giai đoạn thử nghiệm lâm sàng sớm trên con người, nhưng nó không có tác động đáng kể đến việc mất trí nhớ. Các nhà nghiên cứu đã dẫn đến nghi ngờ những đoạn Aβ ngắn – tập hợp của một số đơn phân Aβ (không phải dạng mảng) là dạng Aβ gây bệnh chủ yếu. Những đoạn ngắn này có độc tính, còn được gọi là phối tử có nguồn gốc amyloid khuyếch tán được Chúng liên kết với thụ thể bề mặt của nơ-ron thần kinh và thay đổi cấu trúc của xy-náp thần kinh do đó ngăn cản dẫn truyền tín hiệu thần kinh.
Một thụ thể của Aβ có thể là protein prion, cùng loại protein có liên quan đến bệnh bò điên và 1 bệnh tương tự ở người là bệnh Creutzfeldt-Jakob, do đó có sự liên quan giữa các cơ chế của các bệnh thần kinh đó với cơ chế của bệnh Alzheimer.
3.3. Năm 2009
Lý thuyết này đã được cập nhật rằng một họ hàng gần của protein amyloid beta (không nhất thiết phải là chính amyloid beta) có thể là thủ phạm chính trong căn bệnh này. Lý thuyết này cho rằng một cơ chế liên quan với amyloid – có tác dụng cắt bỏ bớt các cầu nối thần kinh trong não bộ trong giai đoạn phát triển nhanh chóng ở trẻ con – có thể bị kích hoạt bởi quá trình lão hóa sau này, làm mất dần tế bào thần kinh ở bệnh Alzheimer. N-APP, một đoạn ở phía đầu amine của protein APP, nằm cạnh đoạn amyloid beta và được cắt bỏ khỏi APP bởi cùng 1 loại enzyme. N-APP kích hoạt chuỗi phản ứng tự hủy bằng cách bám vào một thụ thể thần kinh gọi là thụ thể chết 6 (DR6, hay còn gọi là TNFRSF21).[43] DR6 được biểu hiện nhiều ở những vùng não bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi bệnh Alzheimer, vì vậy rất có thể chuỗi phản ứng N-APP/DR6 của quá trình lão hóa của não đã bị kích hoạt để gây bệnh. Trong mô hình này, amyloid beta đóng vai trò bổ sung, bằng cách làm giảm chức năng xy-náp.
Một nghiên cứu vào năm 2004 đã thấy rằng sự tích tụ các mảng amyloid không tương quan nhiều lắm với việc mất các nơ-ron. Nghiên cứu đó hỗ trợ cho giả thuyết tau là các thể bất thường của protein tau khởi đầu cho chuỗi phản ứng gây bệnh. Trong mô hình này, các protein tau bị photphorylate hóa quá nhiều sẽ bắt cặp với các sợi tau khác. Cuối cùng, chúng hình thành các đám rối sợi thần kinh bên trong thân tế bào thần kinh. Khi điều đó xảy ra, các vi ống tế bào bị tan rã, làm hỏng hệ thống vận chuyển của nơ ron. Điều này đầu tiên sẽ làm hỏng các chức năng liên lạc hóa sinh giữa các nơ-ron và sau đó gây chết tế bào. Virus Herpes simplex type 1 cũng được cho là là một nguyên nhân gây bệnh ở những người mạng gen apoE nhạy cảm với virus này.
3.4. Giả thuyết sự phá hủy myelin trong não do lão hóa
Sự mất mát myelin dẫn đến giảm khả năng dẫn truyền trong trục thần kinh, vì thế mất dần các nơ ron già cũ. Quá trình phân hủy myelin thải ra sắt cũng góp phần gây phá hủy thêm thần kinh. Quá trình sửa chữa myelin trong cân bằng nội môi góp phần vào sự tích tụ protein như các protein amyloid beta và tau.
3.5. Ứng kích ôxi hóa cũng là một nguyên nhân đáng kể trong việc hình thành bệnh.
Các bệnh nhân AD cho thấy 70% bị giảm mất tế bào ở nhân lục (locus coeruleus), nơi sản sinh ra hooc môn norepinephrine (ngoài chức năng là 1 chất truyền đạt thần kinh) thường khuyếch tán ở những chỗ giãn mạch như một chất kháng viêm nội sinh trong môi trường xung quanh nơ-ron, tế bào thần kinh đệm và các mạch máu trong các vùng vỏ não mới và hồi hải mã. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng norepinephrine kích thích các tế bào thần kinh đệm microglia ở chuột ngăn chặn sự sản xuất các cytokine do tác dụng của Aβ và sự thực bào của Aβ.[53] Điều đó cho thấy sự suy giảm nhân lục có thể là một nguyên nhân gây tăng sự tích tụ Aβ trong não bệnh nhân Alzheimer.
4. Cơ chế bệnh sinh
Người ta vẫn chưa biết chính xác sự biến đổi trong việc sản xuất và tích tụ peptide amyloid beta đến mức độ nào thì gây ra bệnh Alzheimer. Giả thuyết về amyloid chỉ ra sự tích tụ của peptide amyloid beta là sự kiện trọng tâm kích hoạt việc thoái hóa nơ ron. Sự tích tụ của các vi sợi (fibril) amyloid, được coi là dạng có độc tố làm ngăn cản cân bằng ion canxi trong tế bào, kích hoạt sự chết tế bào theo chương trình (apoptosis). Đồng thời, Aβ cũng tích tụ nhiều hơn trong ti thể ở tế bào của não bệnh nhân Alzheimer, và nó cũng ức chế chức năng của một số enzym và việc sử dụng glucose trong nơ ron.
Một số quá trình viêm và các cytokine có thể đóng vai trò trong bệnh học của AD. Viêm là dấu hiệu chung của việc hủy hoại mô ở bất cứ bệnh nào, và có thể là quá trình thứ cấp sau khi mô bị hủy hoại hoặc là 1 dấu hiệu của đáp ứng miễn dịch với bệnh.
Sự thay đổi trong việc phân bổ các neurotrophin (chất điều hòa sự sống, phát triển và chức năng của nơ-ron) và trong việc biểu hiện các thụ thể của chúng ví dụ như chất neurotrophin thu được từ não (brain derived neurotrophic factor – BDNF) cũng đã được mô tả trong bệnh Alzheimer.
5. Điều trị Alzheimer
Bệnh Alzheimer không thể chữa trị được và dần dần nó sẽ làm cho người bệnh không có khả năng đáp ứng những nhu cầu riêng của họ, cho nên việc chăm sóc phải được quản lý chặt chẽ trong quá trình của bệnh.
Trong giai đoạn đầu và giữa, sửa đổi môi trường sống và lối sống có thể tăng tính an toàn cho bệnh nhân và giảm gánh nặng cho người chăm sóc. Bệnh nhân có thể không có khả năng tự ăn uống, do đó, yêu cầu thực phẩm được cắt thành từng miếng nhỏ hoặc nghiền. Khi nuốt sẽ rất khó khăn, cho nên phải sử dụng các ống dẫn thức ăn. Trong trường hợp này, hiệu quả y tế và đạo đức của việc nuôi bệnh là một yếu tố quan trọng của những người chăm sóc và các thành viên trong gia đình.
Khi bệnh tiến triển, các vấn đề y tế khác nhau có thể xuất hiện, chẳng hạn như bệnh răng miệng, loét áp lực, suy dinh dưỡng, các vấn đề vệ sinh, da, hô hấp, hoặc nhiễm trùng mắt. Chăm sóc cẩn thận có thể ngăn chặn chúng.
6. Thuốc hỗ trợ điều trị Alzheimer
Các thuốc hiện nay chỉ có thể làm chậm quá sự tiến triển của Alzheimer, hiện FDA đã phê duyệt 5 thuốc sau đây:
Donepezil (ARICEPT): Tất cả các cấp độ bệnh
Galantamine (RAZADYNE): Nhẹ đến trung bình
Memantine (NAMENDA): Trung bình đến nặng
Rivastigmine (EXELON): Nhẹ đến trung bình
Tacrine (COGNEX): Nhẹ đến trung bình
7. Phòng chống Alzheimer
Các nghiên cứu dịch tễ đưa ra kết luận rằng các hoạt động như đánh cờ hoặc những mối tương tác xã hội có khả năng làm giảm nguy cơ mắc bệnh, mặc dù không tìm thấy được mối quan hệ nhân quả nào.
Hiện nay không có bất kỳ một bằng chứng dứt khoát nào hỗ trợ đặc biệt hiệu quả cho các biện pháp ngăn chặn hoặc trì hoãn sự khởi đầu của bệnh, tuy nhiên các nghiên cứu dịch tễ học đã đề xuất mối quan hệ giữa các yếu tố nhất định, chẳng hạn mối liên hệ giữa chế độ ăn uống, nguy cơ tim mạch, các sản phẩm dược phẩm, sản phẩm công nghệ thông tin, với khả năng số bệnh nhân ngày một tăng.
Mặc dù các yếu tố tim mạch, như tăng cholesterol, cao huyết áp, tiểu đường, và hút thuốc lá, được liên kết với một nguy cơ khởi phát và phát triển bệnh Alzheimer, nhưng statin là loại thuốc làm giảm cholesterol vẫn chưa chứng minh được hiệu quả trong việc ngăn ngừa hoặc cải thiện tiến trình phát triển bệnh. Chế độ ăn kiêng của người vùng Địa Trung Hải, trong đó bao gồm trái cây và rau quả, bánh mì, lúa mì và ngũ cốc khác, dầu ô liu, cá, và rượu vang đỏ có thể làm giảm rủi ro mắc bệnh Alzheimer.
Việc sử dụng vitamin không tìm thấy bằng chứng đủ hiệu quả để khuyến cáo trong việc phòng ngừa và chữa trị bệnh: như vitamin C, E, hoặc axit folic , có hoặc không có vitamin B12. Thử nghiệm kiểm tra acid folic (B9) và vitamin B khác không cho thấy bất kỳ liên kết quan trọng với suy giảm nhận thức.
Những người tham gia vào các hoạt động trí tuệ như đọc sách, chơi trò chơi hội đồng, hoàn thành câu đố ô chữ, chơi nhạc cụ, hoặc tương tác xã hội thường xuyên cho thấy giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Điều này tương thích với các lý thuyết dự trữ nhận thức, trong đó nêu rằng một số kinh nghiệm đời sống cho kết quả hoạt động thần kinh hiệu quả hơn việc cung cấp dự trữ một nhận thức cá nhân trong sự trì hoãn việc khởi đầu của những biểu hiện mất trí nhớ.

Posted By Nguyen Minh Quang8:25 AM

Các thuốc điều trị Alzheimer

Filled under:

Giả thuyết cholinergic của bệnh Alzheimer (Davies và Maloney, 1976) cho rằng bệnh Alzheimer có thể do sự giảm tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh acetylcholin ở não. Giả thuyết đã dẫn đến việc phát triển một số chiến lược tăng cường hoạt động các neurons cholinergic suy nhược và do đó cải thiện chất dẫn truyền thần kinh acetylcholin. Hiệu quả điều trị chắc chắn nhất được thấy khi sử dụng chất ức chế men acetylcholinesterase, chất này làm giảm chất dẫn truyền  thần kinh tại synape cholinergic.
Các thuốc này gồm Donepezil, Tacrine, Galatamine, Rivastigmin. Ngoài ra còn một loại thuốc tác động trên hệ thống glutamate, đó là Memantine.
Donepezil (ARICEPT): Tất cả các cấp độ bệnh
Galantamine (RAZADYNE): Nhẹ đến trung bình
Memantine (NAMENDA): Trung bình đến nặng
Rivastigmine (EXELON): Nhẹ đến trung bình
Tacrine (COGNEX): Nhẹ đến trung bình (1)
Donepezil
Donepezil là thuốc rất chọn lọc acetylcholinesterase. Sự chọn lọc này được khẳng định là làm giảm tác dụng phụ, nhưng dữ kiện lâm sàng không công bố là nó làm tăng khả năng dung nạp. Trong bệnh Alzheimer, một cách nghịch lý, nồng độ Acetylcholinesterase giảm khi bệnh tiến triển, đi đôi với sự tăng butyrylcholinesterase, mà chức năng chưa rõ, nhưng nó hình thành nên phần của những  mảng đó (plaques) và có vẻ như đến từ những tế bào thần kinh đệm được hoạt hóa. Sự ức chế Butyrylcholinesterase có ý nghĩa gì thì không rõ, nhưng Rivastigmin và Galantamin ức chế nó, Donepezil thì không, chúng có thể hoạt động khác nhau, mặc dù không có chứng cớ được công bố nào ủng hộ điều này.
Rivastigmin
Rivastigmin chủ yếu ức chế một trong bốn dưới nhóm của men acetylcholinesterase–G1, đặc biệt được thấy ở vùng dưới đồi và vỏ não. Dưới nhóm này có liên quan đến sự trưởng thành mảng, nhưng điều này có tăng thêm lợi ích trên lâm sàng hay không vẫn chưa được chứng minh.
Galantamin
Galantamin tác động trên thụ thể nicotin tiền synap gây hiệu quả dẫn truyền allosteric (tương tự như  hiệu quả của physostigmin và codeine). Do đó làm tăng số lượng acetylcholin ở synap nhờ hiệu quả trực tiếp trên sự giải phóng tiền synap, tuy nhiên ảnh hưởng lâm sàng và chứng cớ đã được công bố về tầm quan trọng không rõ. Có thể thuốc này điều hoà chất dần truyền thàn kinh , hơn là có tác động đồng vận, bảo vệ chống lại sự giảm của số lượng các thụ thể sau synape. Điều này cho phép thuốc hoạt động lâu hơn, nhưng cần các nghiên cứu sâu hơn để xác định điều này. Thuốc cũng cải thiện khả năng chú ý, được chứng minh với Galantamin nhưng không với Donepezil hoặc Rivastigmin trong bệnh Alzheimer.
Memantine
Ở mức bình thường, glutamate có vai trò trong việc ghi nhớ và học tập. Nhưng nếu tác động mức độ quá mạnh, tác động của nó có thể gây hại các tế bào thần kinh ở não. Memantine là chất đối kháng trên thụ thể NMDA của hệ thống glutamate (N-methyl-D-aspartate), giúp làm giảm hoạt động bất thường trong não bằng cách liên kết với thụ thể NMDA trên các tế bào não và ngăn chặn hoạt động quá mức của các chất dẫn truyền thần kinh glutamate.
Điều trị với thuốc không phải kháng cholinergic (2)
Nghiên cứu về bệnh Alzheimer làm chúng ta hiểu thêm một số cơ chế sinh bệnh liên quan. Ví dụ: viêm nhiễm, được nhận ra bởi các chất đánh dấu viêm, là yếu tố phụ làm phức tạp bệnh với mức tương tự như được tìm thấy trong bệnh tim thiếu máu (McGeer & McGeer 1998). Khoa học cơ bản thấy rằng những người bị viêm khớp dạng thấp có tỉ lệ bệnh Alzheimer thấp hơn (Stewart & CS, 1997) do đó đã thử nghiệm dùng thuốc chống viêm trong điều trị bệnh Alzheimer. Thử nghiệm với Prednisone không thành công, hiện nay đang tiến hành thử nghiệm với các chất ức chế men cyclo-oxygenase (đặc biệt COX-2) ở thú vật và bây giờ thử nghiệm trên người cho thấy có thể hữu ích. Những thuốc này về lâu dài có tác dụng phụ, do đó trong thực hành hiện nay không khuyến cáo sử dụng thường xuyên.
Một nghiên cứu quan sát khác thấy rằng các phụ nữ điều trị bằng hormon thay thế giảm tỷ lệ bị bệnh Alzheimer (Robinson & CS, 1994). Hiệu quả bảo vệ của Estrogen trên hệ thần kinh trung ương và mạch máu thần kinh trung ương được chứng minh (Birge, 1997), do đó hiện nay thử nghiệm hiệu quả điều trị của Estrogen (đặc biệt 17a- oestradiol) đang được tiến hành. Các kết quả nghiên cứu điều trị sớm không được khích lệ (Mulnard & CS, 2000), do đó, hormon thay thế không được khuyến cáo sử dụng điều trị bệnh Alzheimer, mặc dù có vẻ như việc sử dụng nó làm tăng khả năng phòng bệnh Alzheimer, đặc biệt ở Mỹ.
Một nghiên cứu về Selegiline và vitamine E và hiệu quả của chúng trên tiến triển bệnh (Sano & CS, 1997) cho thấy rằng các chất chống oxy hóa có lợi trong nhiều loại bệnh mãn tính, bao gồm bệnh Alzheimer. Nghiên cứu này chỉ ra một hiệu quả tích cực về tỉ lệ phụ thuộc gia tăng và sự trì hoãn nhập viện. Vitamin E không đắt và tương đối an toàn – thử nghiệm liều cao (2000 đơn vị). Nhập viện thì đắt, do đó sự quay lại với điều trị này cao, nhưng không được chứng minh cặn kẽ. Hiện nay nhiều dưỡng đường thường khuyên bệnh nhân Alzheimer sử dụng vitamine E khoảng 1000 đơn vị. Có thể chất này cũng có lợi cho những sa sút khác cũng như bệnh thoái hóa thần kinh.
Các thuốc Nootropic thường được kê toa ở Đức, nổi tiếng nhất là phân tử Gingko Biloba, Nicergoline và Piracetam. Phương thức hoạt động chính xác chưa rõ, dường như nó có hiệu quả trong một số nghiên cứu có đối chứng tốt.
Sự phá hủy thần kinh dường như thứ phát từ sự hoạt hoá tế bào thần kinh đệm, do đó ổn định các tế bào này có thể giảm tỷ lệ bệnh Alzheimer và những bệnh sa sút khác. Nhiều chất như Propentofylline có vẻ như  có hiệu quả trong thí nghiệm nhưng không có hiệu quả điều trị trong lâm sàng. Vẫn còn là một lãnh vực nghiên cứu.
Hệ cholinergic vùng vỏ não trải rộng và có đường dẫn truyền dài từ thân tế bào thần kinh. Do đó cần phải có yếu tố tăng trưởng thần kinh (NGF) để duy trì nó, sự giảm NGF có thể liên quan đến bệnh Alzheimer. Các nghiên cứu tiêm NGF vào trong dịch não tủy tỏ ra có hiệu quả phần nào, nhưng đó không phải là giải pháp thực tiễn. Người ta đang cố gắng tạo công thức phần hoạt động của NGF thành một loại thuốc uống qua được hàng rào máu não, trong khi đó dẫn xuất Xanthine (letepinim potassium) dường như có hiệu quả kích thích NGF cũng sắp được thử nghiệm lâm sàng
THÁCH THỨC TRONG TƯƠNG LAI (3)
Nghiên cứu khoa học cơ bản dần dần mở ra một loạt bệnh học về sa sút tâm thần (đặc biệt bệnh Alzheimer) để cung cấp các cơ hội điều trị lý thuyết. Bắt đầu với các chất ức chế men acetylcholinesterase và bây giờ là giai đoạn thay đổi amyloid. Đầu tiên là những lựa chọn điều trị trong bệnh Alzheimer và chẳng bao lâu nữa sẽ là các bệnh sa sút khác. Có thể từ đơn giản như sử dụng vitamin E đến việc kết hợp điều trị để đạt hiệu quả tối đa (bảng 2). Mặc dù các điều trị này chủ yếu là điều trị triệu chứng, nhưng chúng làm giảm nhẹ bệnh, và làm tăng hiểu biết của các nhà lâm sàng về bệnh. Điều này làm biến chuyển tâm thần học cổ điển từ gốc rễ của nó trong tâm thần xã hội học tới thời điểm mà ở đó dược học tâm thần đóng một vai trò quan trọng. Thách thức bây giờ là học cách sử dụng các điều trị này một cách hiệu quả nhất. Có nghĩa là mỗi người trong chuyên khoa sử dụng các điều trị này có cơ hội đóng góp vào buổi thảo luận và triển vọng trong 10 năm tới sẽ khiến điều này thành một trong những lãnh vực khoa năng động và kích thích nhất để làm việc.
TÓM LẠI
Hiện chưa có thuốc điều trị dứt điểm bệnh Alzheimer, chủ yếu là làm giảm tối đa tốc độ phát triển của bệnh. Trên thị trường hiện có các loại thuốc như hoạt động trên nguyên tắc kích thích não sinh ra nhiều chất Acetylcholin (chất có vai trò dẫn truyền thông tin của não) giúp cải thiện chức năng hoạt động của não, đặc biệt là khả năng ghi nhớ và suy luận, có khả năng cải thiện tình trạng suy giảm trí nhớ và khả năng tư duy của người bệnh. Tuy nhiên, các loại thuốc trên chỉ tác động tốt trong giai đoạn sớm của bệnh. Bệnh Alzheimer tiến triển nhanh hay chậm phụ thuộc vào việc bệnh được phát hiện và điều trị sớm hay muộn. Trung bình, người bệnh có cuộc sống kéo dài khoảng 8-10 năm sau khi được phát hiện bệnh.
Vai trò của người thân trong gia đình rất quan trọng trong việc điều trị bệnh Alzheimer. ở giai đoạn sớm, người bệnh có thể tự khắc phục tình trạng suy giảm trí nhớ của mình bằng cách lập bảng ghi nhớ, các dấu hiệu màu sắc, sự nhắc nhở của người chung quanh. Khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn nặng, sự giám sát của người thân càng phải được tăng cường để cuộc sống của người bệnh thật sự an toàn. Khi bệnh nhân lú lẫn nặng, đi lang thang không tìm được đường về, cần cho bệnh nhân đeo vòng có ghi chú rõ địa chỉ nơi ở và nơi cần liên lạc. (3)
Tham khảo:
  1. Advancing Alzheimer’s Research Worldwide, Current Alzheimer’s Treatments
  2. Thuốc mới điều trị Alzheimer và các sa sút tâm thần khác, BV Tâm thần TP.HCM
  3. Phương pháp điều trị Alzheimer

Posted By Nguyen Minh Quang8:24 AM

Bệnh Parkinson và điều trị

Filled under:

Bệnh Parkinson (hay còn gọi là PD – Parkinson’s disease) là một rối loạn thoái hoá của hệ thần kinh trung ương làm suy yếu khả năng vận động, lời nói, và các chức năng khác. Bệnh Parkinson thuộc nhóm các bệnh rối loạn vận động. Nó có đặc điểm cứng cơ, run, tư thế và dáng đi bất thường, chuyển động chậm chạp và trong trường hợp bệnh nặng người bệnh có thể mất đi một số chức năng vận động vật lý.
Các triệu chứng chính xuất hiện tương ứng với sự giảm các kích thích ở vùng vỏ não thuộc phạm vi điều khiển của hạch nền. Thông thường điều này liên quan đến sự giảm hình thành và sản xuất dopamine trong tế bào thần kinh dopaminergic của não giữa (cụ thể là substantia nigra). Các triệu chứng phụ như có thể xuất hiện rối loạn chức năng nhận thức cấp cao và các vấn đề về ngôn ngữ tinh tế. PD là bệnh mãn tính tự phát, hoặc trong trường hợp thứ cấp, nguyên nhân gây bệnh có thể là do độc tính của một số loại thuốc, chấn thương đầu, hay các rối loạn y tế khác. Căn bệnh này được đặt theo tên tiếng Anh dược sư James Parkinson, ông đã mô tả chi tiết của bệnh trong bài tiểu luận: “An Essay on the Shaking Palsy” (1817).
Đông y gọi bệnh Parkinson là Ma Mộc, Tứ Chi Nhuyễn Nhược, Chấn Chiến, giai đoạn cuối cùng của bệnh được xếp vào loại Nuy Chứng.
Phân loại
Bệnh Parkinson được chia thành 4 nhóm chính dựa trên các nguyên nhân gây bệnh : nhóm bệnh thứ cấp hoặc tự phát (không biết rõ nguyên nhân), nhóm sơ cấp (có nguyên nhân), nhóm bệnh do di truyền, nhóm bệnh Parkinson kết hợp chung với những thoái hóa nhiều hệ thống. Trong đó nhóm tự phát chiếm phần lớn các ca bệnh.
Bệnh Parkinson thường có các dấu hiệu về giảm thiểu chức năng vận động cơ học, ngoài ta còn có một số triệu chứng khác như rối loạn chức năng tự trị, có vấn đề về nhận thức, mất ngủ…
Triệu chứng về vận động
Bệnh thường xuất hiện bốn triệu chứng về vận động: run, cứng, chậm chạp (Bradykinesia), và tư thế bất ổn định. Mặc dù khoảng 30% bệnh nhân không xuất hiện run trong thời gian đầu, nhưng đặc điểm này sau đó cũng sẽ bộc phát khi bệnh tiến triển. Triệu chứng cứng người là do cơ bắp và xương bị cứng dần, có thể kèm theo đau khớp. Di chuyển chậm chạp là đặc tính lâm sàng đặc trưng nhất của bệnh Parkinson. Trong giai đoạn cuối, bệnh sẽ xuất hiện các chứng bất ổn định về tư thế dẫn đến mất cân bằng và té ngã.
Triệu chứng về thần kinh
Bệnh Parkinson gây ra một số rối loạn trung khu thần kinh, trong đó bao gồm chủ yếu là nhận thức, tâm trạng và các vấn đề hành vi. Rối loạn nhận thức trong một số trường hợp có thể xảy ra ngay cả trong giai đoạn đầu của bệnh. Một tỷ lệ rất cao người bệnh sẽ có suy giảm nhận thức nhẹ.
Các triệu chứng khác
Ngoài các triệu chứng về nhận thức và vận động, PD có thể làm giảm nhiều chức năng cơ thể khác. Bệnh có thể có các biểu hiện như buồn ngủ ban ngày, rối loạn trong giấc ngủ hoặc mất ngủ. Ngoài ra người bệnh có thể có các triệu chứng như hạ huyết áp, da nhờn và viêm da tiết bã, đổ mồ hôi quá nhiều, tiểu không tự chủ và chức năng tình dục thay đổi, táo bón. PD cũng gây ra các bất thường về mắt như tỷ lệ nháy mắt giảm, dẫn đến kích thích bề mặt mắt, những bất thường trong việc nhìn theo một vật hoặc chuyển mục tiêu nhìn đột ngột và hạn chế trong việc nhìn lên. Thay đổi trong cảm quan bao gồm giảm các cảm giác về mùi, cảm giác đau, dị cảm. [1]
Nguyên nhân
Mục tiêu đặt ra ở đây là khám phá nguyên nhân tại sao khi những neuron thần kinh này bị phá hủy lại gây ra bệnh Parkinson.
Có nhiều giả thuyết được đặt ra nhưng nhiều nhà nghiên cứu tin rằng Parkinson không được gây ra bởi chỉ duy nhất một thủ phạm mà nó là sự kết hợp của hai tác nhân: sự nhạy cảm mang tính chất di truyền và những tác động xấu gây ra bởi môi trường xung quanh dẫn đến sự thoái hóa của tế bào não.
Nhiều nghiên cứu phát hiện ra rằng sống ở môi trường nông thôn, uống nước giếng, tiếp xúc nhiều với thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, sống gần nhà máy gỗ có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh.
Người ta đã chứng minh được rằng có khoảng 5 – 10% bệnh nhân Parkinson có xu hướng di truyền. Một nghiên cứu gần đây phát hiện ra có một gene đột biến ở trong nhóm người mắc bệnh. Mặc dù gen đột biến này không phải là nguyên nhân của tất cả những trường hợp bệnh nhưng phát hiện này đã mở ra cơ hội cho các nhà khoa học thực hiện thêm các nghiên cứu trên động vật để tiếp cận sâu hơn nữa đối với bệnh Parkinson.
Hiện nay thì giả thuyết hứa hẹn nhất là giả thuyết về sự Oxy hóa:
  • Người ta tin rằng các gốc hóa học tự do là nguyên nhân của bệnh Parkinson. Các gốc hóa học tự do mang điện tích dương được sinh ra do Dopamin bị phá hủy khi nó kết hợp với Oxy.Sự phá hủy dopamin gây ra bởi 1 enzyme tên là MonoAmin Oxidase (MAO) dẫn đến sự hình thành hydrogen peroxide
  • Bình thường thì có một protein tên là Glutathione sẽ phá hủy Hydrogen peroxide một cách nhanh chóng. Nếu hydrogen peroxide không bị phá hủy, nó sẽ dẫn đến sự hình thành những gốc tự do có thể tác dụng lên màng tế bào làm phá hủy tế bào và oxy hóa lipid khi hydrogen peroxide tác động lên màng lipid ở lớp màng tế bào.
  • Ở bệnh Parkinson, glutathione bị thiếu do đó cơ thể mất đi sự bảo vệ cần thiết chống lại sự hình thành những gốc hóa học tự do.
  • Hơn nữa, sự gia tăng chất sắt trong não có thể làm tăng sự tạo thành các gốc tự do.
  • Ngoài ra, sự oxy hóa lipid cũng gia tăng ở bệnh Parkinson.
  • Sự liên quan giữa bệnh Parkinson với sự tăng tốc đào thải Dopamin, sụt giảm các yếu tố bảo vệ (glutathione) chống lại các gốc tự do, tăng lượng chất sắt (làm cho sự tạo thành các gốc tự do xảy ra dễ dàng hơn) và gia tăng oxy hóa lipid đã giúp củng cố giả thuyết về sự Oxy hóa này.
  • Nhưng cho dù giả thuyết này có được xem là đúng đi chăng nữa thì nó vẫn không thể giải thích được tại sao hoặc bằng cách nào mà cơ thể lại bị mất đi cơ chế tự bảo vệ. Câu trả lời vẫn còn được để ngỏ. Và nếu giả thuyết này đúng, người ta có thể điều chế thuốc để ngăn chặn hoặc làm chậm đi các triệu chứng này.
Mặc dù nguyên nhân của bệnh Parkinson vẫn chưa được khám phá ra, nhưng vẫn có những trường hợp các triệu chứng của bệnh Parkinson có thể xác định được nguyên nhân một cách rõ ràng. Trong trường hợp này, người ta gọi các hội chứng trên là Parkinson thứ phát.
Mặc dù Parkinson nguyên phát, hoặc bệnh Parkinson, là type thường gặp nhất, nhưng số lượng thật sự những người bị bệnh Parkinson thứ phát gây ra do thuốc có thể còn nhiều hơn rất nhiều so với con số được báo cáo, và chiếm khoảng 4% trường hợp Parkinson thứ phát.
  • Sự thay đổi nồng độ dopamine, do mất tế bào não hay do dùng thuốc, đều có thể gây ra các triệu chứng của Parkinson
  • Những người bị Parkinson thứ phát do thuốc có nguy cơ cao mắc bệnh Parkinson nguyên phát sau này.
  • Những thuốc gây ra bệnh Parkinson bằng cách làm hạ thấp nồng độ dopamin được gọi là chất ức chế các receptor của dopamin.
  • Hầu hết những loại thuốc chống rối loạn thần kinh hoặc thuốc an thần như Chlorpromazine (Thorazine), haloperidol (Haldol) và Thioridazine (Mellaril) có thể gây ra những triệu chứng của Parkinson.
  • Valproic acid (Depakote), vốn được sử dụng rộng rãi như là một loại thuốc chống co giật, có thể gây ra triệu chứng Parkinson ngược lại.
  • Những loại thuốc như metoclopramide (Octamide, Maxolon, Reglan), được dùng để điều trị những rối loạn của dạ dày chẳng hạn như loét dạ dày, có thể gây ra Parkinson thứ phát hoặc làm cho tình trạng tồi tệ hơn.
  • Thuốc chống trầm cảm ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin có thể gây ra những triệu chứng tương tự như parkinson.
Nói chung, cơ chế gây bệnh của tất cả những loại thuốc trên là chúng có khả năng làm thay đổi nồng độ dopamin trong hệ thần kinh trung ương.
Do đó, trước khi chẩn đoán xác định một trường hợp bệnh Parkinson, người bác sĩ cần phải xem xét kỹ lưỡng tất cả các loại thuốc bệnh nhân đã dùng và loại trừ các nguyên nhân u não, đột quỵ, nhiễm trùng, nhiễm độc, AIDS và não úng thủy. [2]
Điều trị
Nội khoa
Các thuốc thông dụng được dùng tại Việt nam là: Levodopa (tên thương mại Modopar, Sinemet), Trihexyphenidyl (Artane), Pramipexole (Sifrol).
Thuốc chủ chốt để điều trị Parkinson hiện nay là Levodopa. Thậm chí một trong những tiêu chuẩn chẩn đóan là bệnh nhân bị bệnh Parkinson, hay không phải là bị bệnh Parkinson, là xem thuốc Levodopa có hiệu quả điều trị đối với các biểu hiện bệnh hay không. Nếu đúng là bị bệnh Parkinson, thì thuốc sẽ có tác dụng “thần hiệu”. Bệnh nhân sẽ đỡ run, đỡ cứng đờ, cử động nhanh nhẹn hơn. Giai đọan thuốc có tác dụng rất tốt như vậy, người ta gọi là giai đoạn “tuần trăng mật”. Giai đoạn này thường kéo dài vài năm. Về sau, sẽ phải tăng liều lượng thuốc thì mới duy trì được tác dụng. Tuy nhiên nếu dùng liều cao và kéo dài thì có thể có những tác dụng bất lợi về sau, do vậy thầy thuốc thường khuyên bệnh nhân đừng vội dùng thuốc này, và nếu đã dùng rồi thì đừng vội vã tăng liều thuốc. Trong giai đọan đầu bị bệnh, nên sử dụng các thuốc không phải là Levodopa, kiểu như Pramipexole để điều trị. Về sau, khi bệnh đã rõ hơn, phải dùng tới Levodopa, thì cũng vẫn phối hợp thêm với Pramipexole, để hạn chế bớt tác dụng phụ do Levodopa gây ra.
Khi bệnh đã nặng, thuốc Levodopa không còn công hiệu, và bệnh nhân không quá già và không có suy giảm trí nhớ nặng, cũng như không có các bệnh toàn thân nặng, thì có thể xem xét điều trị bằng phẫu thuật. Có 2 kiểu phẫu thuật chữa bệnh Parkinson, là kiểu gây phá hủy một vài cấu trúc nhỏ trong não, và kiểu đặt điện cực kích thích vào sâu bên trong não. Tuy nhiên phẫu thuật này ở Việt Nam mới có những tiền lệ ban đầu, chưa được phổ biến. Bệnh nhân thường phải sang Mỹ hoặc Pháp, với chi phí 35-50 ngàn đô la. Kết quả sau mổ có thể rất ngoạn mục. [3]
Sử dụng các loại thuốc bảo vệ các neuron thần kinh sản xuất ra Dopamin. Các cuộc nghiên cứu đã cho thấy Selegiline (Eldepryl) có tác dụng bảo vệ các neuron sản xuất Dopamin
Selegiline được sử dụng trong giai đoạn sớm của bệnh với hy vọng nó sẽ làm chậm lại tốc độ thoái hóa các neuron dopamin. Các phương pháp điều trị triệu chứng bắt đầu khi bạn xuất hiện những dấu hiệu thoái hóa chức năng. Lựa chọn phương phá điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân của sự thoái hóa.
- Nếu nguyên nhân là do run giật, có thể sử dụng thuốc điều trị run giật, như Amantadine (Symadine, Symmetrel), vốn là một tác nhân kháng đối giao cảm. Amatadine làm giảm nhẹ triệu chứng run giật trong khoảng 50% trường hợp và không gây cứng khớp và di chuyển chậm chạp. Vì triệu chứng run giật chỉ đáp ứng tốt với 1 loại thuốc đối giao cảm mà không có hiệu quả nếu sử dụng loại khác, do đó có thể bác sĩ sẽ sử dụng thử 1 loại đối giao cảm khác nếu như loại thuốc đầu tiên không hiệu quả.
Điều trị khởi đầu bằng liều thấp và tăng liều lên dần để hạn chế tác dụng phụ bao gồm khó nhớ, lú lẫn và ảo giác. Tác dụng phụ trên tâm thần thường gặp nhất, đặc biệt là ở những người lớn tuổi.
- Nếu nguyên nhân là do cứng khớp, di chuyển chậm chạp, giảm sự khéo léo, nói chậm, lê chân, đó là những triệu chứng liên quan đến Dopamin. Thuốc được sử dụng là Levodopa – Carbidopa (Sinemet) có tác dụng tăng lượng dopamin trong não. Khởi đầu với liều thấp, tăng chậm cho đến khi kiểm soát được triệu chứng.
Nhiều trường hợp cần phải điều trị như vậy đối với cứng khớp và di chuyển chậm chạp trong vòng 1 – 2 năm sau chẩn đoán. [2]
Hỗ trợ điều trị
Người bị bệnh Parkinson, do cử động chậm chạp khó khăn, nên thường trở nên ỳ trệ hơn, điều đó lại làm cho bệnh tiến triển nhanh hơn nữa. Vì vậy khi bị bệnh, nên tập thể dục nhiều, càng vận động nhiều thì bệnh càng đỡ nặng hơn.
Bệnh nhân nên ăn nhiều rau và trái cây để tránh táo bón. Không nên ăn kiêng thịt cá, nhưng đừng ăn quá nhiều một lúc, vì các chất đạm trong thức ăn có thể làm giảm hấp thu thuốc chữa bệnh.
2. Kích thích điện não bộ
Các bác sĩ sẽ phẫu thuật để đặt vào vùng mắc bệnh trong não bệnh nhân 1 hoặc 2 điện cực; đồng thời đặt dưới da lồng ngực 1 máy phát xung điện và 1 máy điện toán cực nhỏ (tất cả nặng 50 g). Hai hệ thống này nối với nhau bằng 2 dây dẫn nằm dưới da đầu, cổ và vai. Khi một dòng điện tần số cao được phóng ra, não bộ sẽ hoạt động lại bình thường mà không cần dopamin.
Các thiết bị nói trên chạy bằng pin, 3 năm phải thay một lần. Chúng có khả năng ức chế các xung bất thường của dòng điện não. Khi máy vận hành, người bệnh linh hoạt trở lại; sự rối loạn vận động, run rẩy và cứng ngắc tứ chi hầu như hoàn toàn biến mất. Các thống kê cho thấy, 70% bệnh nhân được áp dụng kỹ thuật này đã trở lại sinh hoạt bình thường; 30% thấy bệnh giảm bớt.
3. Ghép tế bào thai nhi
Các phẫu thuật viên sẽ lấy tế bào của thai nhi ghép vào não bệnh nhân để chúng sản xuất ra dopamin. Đây là loại kỹ thuật cao nhất trong điều trị Parkinson. Kỹ thuật này cực kỳ phức tạp và chi phí rất cao nên ngay cả các nước tiên tiến cũng hạn chế sử dụng nó.
Tham khảo:
  1. Bệnh Parkinson – Wikipedia Vietnam
  2. Bệnh Parkinson – Nhịp cầu Y khoa – Nguồn: emedicinehealth.com
  3. Thường thức về bệnh Parkinson, PGS.TS. Nguyễn Hữu Công, Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP Hồ Chí Minh

Posted By Nguyen Minh Quang8:24 AM

Những nhân tố khiến huyết áp thay đổi đột biến

Filled under:

Dưới ảnh hưởng của nhịp sinh học, mọi tiến trình thần kinh, nội tiết, biến dưỡng… không bao giờ vận hành theo kiểu một ngày như mọi ngày. Nếu nói riêng với hệ tim mạch, huyết áp không có trị số cố định nếu so sánh kết quả đo đạc vào buổi sáng với buổi chiều. Cũng chính vì thế mà người bệnh huyết áp khó tránh những thời điểm nhạy cảm khiến bệnh có thể trở thành nghiêm trọng.
Tăng huyết áp vì ăn trưa quá nhanh
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tai biến mạch máu não dễ xảy ra “đúng giờ ngọ”. Không có gì khó hiểu vì:
- Huyết áp có khuynh hướng nhích lên trong khoảng từ 11g – 13g. Tình trạng này càng rõ nét hơn nữa dưới ảnh hưởng của trời nắng gắt. Khi ghi nhận nhiệt độ cao của môi trường bên ngoài, cơ thể phản ứng bằng cách trương (giãn) mạch ngoài da đồng thời đổ mồ hôi để thoát nhiệt bên trong cơ thể. Vì phản ứng giãn mạch ngoài da kéo dài quá lâu nên lượng máu ra da càng lúc càng nhiều. Hậu quả là nhiều nơi khác khó tránh thiếu máu, nghĩa là sớm muộn cũng kéo theo thiếu dưỡng khí. Nếu xảy ra ở thành tim, ở não bộ thì nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ.
- Bên cạnh đó, không thiếu người có chế độ dinh dưỡng đúng nhưng vẫn bị tăng mỡ trong máu. Đã vậy lại là loại chất béo gây xơ vữa mạch máu như triglyceride! Nhiều người đã được điều trị bằng thuốc đặc hiệu nhưng hiệu quả không như mong muốn. Cũng may là thầy thuốc đã phát hiện nguyên nhân gắn liền với nếp sinh hoạt. Đó là vì bữa cơm trưa ăn quá nhanh khiến giờ ăn biến thành stress và dẫn đến phản ứng của tuyến thượng thận gây rối loạn biến dưỡng chất béo. Nên thêm 10 phút cho bữa cơm trưa tăng phần thư giãn để phòng bệnh.
Máu quá đậm đặc vì thiếu giấc ngủ trưa
Mạch máu không vô cớ bỗng tắc nghẽn làm chi rồi sinh tai biến mạch máu não, rồi gây hoại tử cục bộ trên thành tim đến độ nhồi máu cơ tim.
Đáng tiếc, vì bên cạnh việc dùng thuốc còn có cách khác đơn giản hơn nhiều để “hoạt huyết” mà khỏi lo phản ứng phụ. Thầy thuốc đã biết từ lâu về công năng đa dạng của giấc ngủ trưa, từ tác dụng thư giãn bước qua khả năng tổng hợp kháng thể, đến độ đặt tên là giấc ngủ năng lực (power sleep). Chẳng những thế, các nhà nghiên cứu cũng đã chứng minh là máu có độ loãng lý tưởng sau giấc ngủ trưa.
Điểm lợi của giấc ngủ trưa là không cần nhiều, thường không hơn 30 phút đã đủ để có tác dụng như mong muốn. Nhưng nếu thuốc nào cũng có tác dụng phụ thì ngủ trưa cũng thế. Đừng ngủ trưa trễ hơn 15 giờ vì khi đó giấc ngủ trưa chính là lý do dẫn đến rối loạn nhịp sinh học khiến gia chủ khó ngủ về đêm.
Đừng quên nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não vẫn trước sau là lý do khiến bệnh tim mạch đứng đầu trên bảng tỷ lệ tử vong. Đáng nói là phía sau hai căn bệnh đó hầu như bao giờ cũng có bàn tay phá hoại ngấm ngầm của bệnh tăng huyết áp.
Theo Bệnh Tim Mạch – BS. Lương Lễ Hoàng

Posted By Nguyen Minh Quang8:23 AM

Kỹ thuật mới chẩn đoán ung thư chính xác gần 99%

Filled under:

Kỹ thuật mới ứng dụng các hạt nano vàng có thể xác định khối u phát triển mạnh với mức độ chính xác lên tới 98,8%.
Phát hiện miRNA ở mật độ cực thấp
MicroRNA (miRNA) là một trong những loại phân tử đóng vai trò quan trọng nhất đối với hoạt động điều tiết của cơ thể người. Những đoạn RNA ngắn lưu thông trong máu một cách ổn định và có liên quan tới các mô cũng như các chức năng cụ thể, do đó, với vai trò là một chất chỉ thị sinh học, chúng có tiềm năng lớn trong việc hỗ trợ chẩn đoán ung thư và các bệnh khác.
Các số liệu nghiên cứu còn cho thấy một số các cấu trúc miRNA nhỏ dường như không được kiểm soát và có thể đóng vai trò nào đó trong sự phát triển của ung thư tuyến tiền liệt.
Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất là mức độ miRNA trong máu quá thấp khiến cho các công nghệ phát hiện phân tử sinh học có thể ứng dụng được hiện nay khó phát hiện chúng một cách chính xác.
Khi thử nghiệm phương pháp chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt mới thông qua miRNA, nhóm nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ nano trị ung thư thuộc Đại học Northwestern (Mỹ) đã phát hiện ra các điểm khác biệt rõ ràng giữa các mẫu mô từ khi phát triển chậm tới khi phát triển mạnh. Phương pháp này ứng dụng các hạt nano vàng và có thể xác định khối u phát triển mạnh với mức độ chính xác lên tới 98,8%.
Đó là nhờ khả năng phát hiện miRNA ngay cả khi nó ở mức thấp, khoảng 30.000 phân tử/giọt máu. Trong khi đó, công nghệ huỳnh quang tiêu chuẩn không thể phát hiện được 88% miRNA trong máu ở mật độ cao gấp 10 lần so với công nghệ mới này.
Sau khi cô lập miRNA khỏi máu người hoặc một mẫu mô, nhóm nghiên cứu đã sử dụng môt enzyme để tạo liên kết chung giữa các phân tử miRNA rồi đưa cấu trúc mới này vào chuỗi ADN. Sau khi các miRNA liên kết với một vị trí nhất định trên chuỗi, các miRNA không liên kết sẽ được loại bỏ. Các nhà khoa học sẽ thêm vào đó axit nucleic hình cầu và các hạt nano vàng. Khả năng tán sáng của các hạt nano và độ nhạy của chuỗi cũng được tăng lên. Máy quét sẽ ghi lại hình ảnh của chuỗi này sau khi được xử lí.
Phương pháp tin cậy chẩn đoán ung thư
Đây không phải lần đầu tiên các hạt nano vàng được ứng dụng để chẩn đoán ung thư. Từ lâu, chúng đã được khoa học chứng minh là rất có hiệu quả trong việc phát hiện các chất độc sinh học. Trong những năm gần đây, nano vàng được ứng dụng nhiều trong việc chẩn trị một số loại ung thư phổ biến như ung thư gan, ung thư vú, ung thư phổi…, được đánh giá là một phương pháp tiết kiệm chi phí và đem lại độ chính xác cao.
Trong các kỹ thuật này, hạt nano vàng đóng vai trò như hạt chỉ điểm khi kết hợp cùng với kỹ thuật phân tán tia X.
Ung thư vú
Năm 2007, Đại học Purdue (Mỹ) đã vận dụng hạt nano vàng để phát hiện ung thư vú ở nữ giới, thông qua các protein chỉ dấu trên vỏ tế bào ung thư. Các hạt nano vàng có kích thước nhỏ hơn cả virus, được trang bị với các kháng thể được thiết kế để bám chặt vào một loại chất chỉ dấu nhất định trên bề mặt tế bào ung thư.
Ung thư gan
Để phát hiện các khối u với kích thước nhỏ, các nhà nghiên cứu tại Đại học Brown (Mỹ) đã sử dụng các hạt nano vàng có kích thước khoảng 50-60nm, bao quanh bởi một lớp phủ polyme gắn đầy điện cực, có tác dụng tích điện cho các hạt nano. Các hạt nano được tích điện sẽ nhanh chóng được bao phủ bởi các tế bào ung thư. Kết hợp với kỹ thuật phân tán tia X, phương pháp này cho phép phát hiện những khối u có kích thước chỉ 5mm, thay vì 5cm như các phương pháp thông thường.
Ung thư phổi
Trung tâm ung thư Đại học Colorado (Mỹ) và Đại học Technion (Israel) đã phát triển một thiết bị cảm ứng sử dụng hạt nano vàng, có khả năng phát hiện tế bào ung thư phổi qua hơi thở của người bệnh. Thí nghiệm cho thấy thiết bị hiệu quả tới 86% trong việc nhận biết, phân biệt tế bào ung thư với tế bào khỏe mạnh, giữa ung thư tế bào nhỏ với ung thư tế bào không nhỏ và giữa 2 loại tế bào ung thư không nhỏ là adenocarcinoma và squamous cell carcinoma.
Ung thư tuyến tiền liệt
Riêng với ung thư tiền liệt tuyến, trước miRNA, các hạt nano vàng được ứng dụng để nhận biết phản ứng hóa học giữa tế bào ung thư và protein IgG. IgG có xu hướng bám vào bề mặt các hạt nano vàng để tạo thành protein phát quang. Khi tế bào ung thư tiền liệt tuyến xuất hiện, nó sẽ phá hủy các IgG trong máu. Mức độ của phản ứng còn có thể giúp nhận biết mức độ ác tính của khối u.
Lê My – Thu Thương (Theo Physorg, Sciencedaily)

Posted By Nguyen Minh Quang8:22 AM

Lợi ích khó tin của việc đánh răng

Filled under:

hông chỉ giúp tăng sự tự tin trong giao tiếp, giữ vệ sinh răng miệng còn là một phương pháp hiệu quả giúp phòng tránh các bệnh tim mạch, tiểu đường, thậm chí ung thư. Bệnh tim mạch và đột quỵ
Trong nghiên cứu mới đây đăng trên Chuyên san British Medical, các nhà khoa học đã phân tích dữ liệu về tình trạng sức khoẻ của hơn 11.000 người và phát hiện thấy ở những người không đánh răng thường xuyên, nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn 70% so với những người đánh răng 2 lần mỗi ngày.
Một số nghiên cứu trước đây cho thấy, vi khuẩn trong miệng gây viêm hoặc gây các bệnh về nướu có thể tìm cách len lỏi vào mạch máu, khiến thành mạch dần bị dày lên, từ đó làm tăng nguy cơ đau tim. Ngoài ra, khi đó, những mảng bám cholesterol bên trong thành mạch máu có thể bị vỡ, theo máu lên não và gây đột quỵ.
Tiểu đường
Một số nghiên cứu mới đây cho thấy, phòng ngừa các chứng viêm nhiễm về nướu có thể là một cách hiệu quả giúp giảm nguy cơ mắc tiểu đường tuýp 2.
Trong nghiên cứu của Đại học Y tế công cộng Mailman, Đại học Columbia (Mỹ), các nhà khoa học đã theo dõi tình trạng sức khoẻ của 9.296 người khoẻ mạnh trong hơn 20 năm. Kết quả cho thấy, ở những người bị nha chu nặng, nguy cơ mắc tiểu đường tuýp 2 cao gấp 2 lần những người không mắc căn bệnh này.
Theo các nhà khoa học, có thể sự viêm nhiễm nghiêm trọng ở vùng miệng dẫn tới hiện tượng viêm mạn tính, từ đó làm giảm khả năng xử lý đường của cơ thể.
Viêm đường hô hấp
Theo một nghiên cứu đăng trên Chuyên san Periodontology, giữ vệ sinh răng miệng giúp bảo vệ phổi. Trong số 200 đối tượng tuổi từ 20 – 60 tham gia nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện thấy ở những bệnh nhân mắc các bệnh liên quan tới đường hô hấp như viêm phổi, viêm ống phổi cấp tính, viêm đường hô hấp trên hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), tình trạng bệnh nha chu có biểu hiện nặng hơn các đối tượng khác.
Nguyên nhân của tình trạng này là do vi khuẩn gây bệnh nha chu có thể len lỏi xuống ống hô hấp dưới, gây nghẽn mạch hô hấp hoặc các vấn đề nghiêm trọng liên quan tới phổi.
Ung thư vú
Khảo sát của Viện Nghiên cứu Karolinska (Thụy Điển) cho thấy, nguy cơ mắc ung thư vú ở những phụ nữ bị rụng răng hoặc mắc các bệnh về nướu cao gấp 11 lần mức trung bình của cộng đồng. Do đây là nghiên cứu đầu tiên chỉ ra mối liên hệ giữa sức khoẻ răng miệng và ung thư vú ở phụ nữ, các nhà khoa học cho rằng cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu để củng cố kết luận trên.
Sinh non và cao huyết áp khi mang thai
Do lượng hormon tăng giảm thất thường và lượng máu lưu thông trong cơ thể tăng lên trong suốt quá trình mang thai, nhiều phụ nữ thường không chú ý tới những thay đổi trong răng và nướu. Theo Viện Đào tạo bác sĩ chuyên khoa về nha chu của Mỹ, 50% phụ nữ mang thai bị viêm nướu. Nếu không chữa trị kịp thời, bệnh sẽ chuyển biến sang nha chu, gây ảnh hưởng tới quá trình sinh nở. Một số nghiên cứu khác cho rằng có mối liên hệ trực tiếp giữa vi khuẩn gây viêm nhiễm trong miệng và hiện tượng sinh non hoặc cao huyết áp trong thời gian mang thai.
Thu Thương (Theo Women’s Health)

Posted By Nguyen Minh Quang8:22 AM